Để có những hình ảnh hiệu quả trên trang Web, hình ảnh của bạn phải có được sự
cân bằng hài hoà giữa kích thước file ảnh và chất lượng ảnh. Sử dụng Adobe
Photoshop và Adobe Image Ready, bạn có thể tối ưu hoá hình ảnh của bạn để những
hình ảnh này có thể được tải xuống nhiều lần từ máy chủ mà không bị mất đi những
chi tiết quan trọng, độ trông suốt, các thành phần chuyển dịch chẳng hạn như bản
đồ ảnh. (image map)
Trong bài học này, bạn sẽ học cách làm sau:
-
Tối ưu hoá các tập tin dạng JPEG và GIF, điều chỉnh các xác lập tối ưu hoá để đạt được sự cân bằng giữa kích cở ảnh và chất lượng ảnh.
-
Xác định độ trong suốt cho một ảnh.
-
Xử lý hàng loạt các tập tin
nhằm tự động hoá quá trình tối ưu hoá.
Bài học
này cần 1 tiếng 30 phút để hoàn
tất. Bài học này được soạn dành cho
Adobe Photoshop và Adobe ImageReady.
Chú ý: Những người sử dụng Window 2000
cần mở những tập tin bài học trước khi
sử dụng chúng. Để biết thêm thông tin, xem
phần “Copying the Classroom in a Book files” ở
trang 3.
Sử dụng Photoshop và ImageReady để tối ưu
ho hình ảnh
Tối ưu hoá là quá trình chọn dạng, độ phân giải, và các xác lập về chất lượng ảnh để một ảnh có hiệu quả, bắt mắt
và tiện ích cho các trang duyệt web. Nói một cách đơn giản, đó chính là sự hài hoà giữa kích cở ảnh và chất lượng ảnh. Không có một tập hợp các xác lập đơn lẻ nào có thể tối ưu hoá mức hữu hiệu của mỗi loại ảnh, tối ưu hoá đòi hỏi nhận xét và mắt thẩm mỹ của con người.
Các tuỳ chọn nén thay đổi tuỳ theo dạng tập tin khi lưu. Bạn nên làm quen với những loại dạng tổng quát.
-
Dạng JPEG được thiết kế để giữ lại độ màu rộng và độ sáng rõ của những ảnh có tông màu liên tục (chẳng hạn như những ảnh ở chế độ tô màu gradient). Dạng
này có thể tiêu biểu cho những ảnh
sử dụng hàng triệu màu.
-
Dạng GIF hiệu quả đối với những ảnh nén màu đặc và những ảnh có những vùng màu lập lại (chẳng hạn như nghệ thuật đường thẳng, các biểu tượng và những hình minh hoạ có chữ). Dạng
này sử dụng một bảng gồm 256 màu để thể hiện hình ảnh và hỗ trợ cho độ trong suốt của nền.
-
Dạng PNG hiệu quả đối với những ảnh nén màu đặc và giữ được chi tiết sắc nét. Dạng PNG-8 sử dụng bảng 256 màu để thể hiện 1 ảnh. Dạng PNG-24 hỗ trợ màu 24 bit (hàng triệu màu), tuy nhiên nhiều ứng dụng trình duyệt trước đây không hỗ trợ các tập tin dạng PNG.
-
Dạng WBNG là dạng chuẩn cho việc tối ưu hoá các hình ảnh đối với các thiết bị di động chẳng hạn như điện thoại di động. Dạng WBMP hỗ trợ màu 1 bit, có nghĩa là những ảnh dạng WBMP chỉ chứa những điểm ảnh màu đen và màu trắng.
Chú ý: Để có thông tin về việc sử dụng các dạng PNG và WBNG, xem phần Trợ Giúp của Photoshop.
Adobe Photoshop và Adobe ImageReady sẽ cho bạn một phạm vi điều khiển hiệu quả đối với việc nén kích thước tập tin của một ảnh trong khi tối ưu hoá chất lượng ảnh thể hiện trên màn hình. Bạn có thể áp dụng một tập hợp các thiết lập tối ưu cho một tập hợp ảnh, một ảnh rời, một lớp (layer) hay 1 tấm phim chụp (slice).
Trong bài học
này bạn sẽ tối ưu hoá và lưu các hình ảnh ở dạng JPEG v à GIF. Trong các bài tập tiếp theo sau, bạn sẽ làm việc với một loạt ảnh được thiết kế để sử dụng trên trang web cho các tổ chức du lịch giả tưởng.
Photoshop (qua hộp thoại Save for web) và ImageReady (qua bảng Optimize) có nhiều khả năng giống nhau về việc tối ưu hoá hình ảnh. Thí dụ, bạn có thể sử dụng trình ứng dụng để chọn một mảng rộng các dạng tập tin và các xác lập cho phù hợp với các mục tiêu đối với dự án của bạn. Bạn cũng có thể dùng một trong hai chương trình để so sánh những ảnh đặt kế bên nhau có mức độ tối ưu hoá khác nhau của cùng một tập tin. Sử dụng những đặc điểm tối ưu hoá và bảng màu trong Adobe Photoshop và ImageReady, bạn có thể làm tối đa tính trọn vẹn của màu sắc trong khi làm cho kích thước tập tin ảnh giảm tối thiểu.
Bắt đầu
Bạn sẽ làm phần đầu tiên của bài học này trong Photoshop nhưng đồng thời cũng có
thể làm trong chương trình ImageReady. Khi bắt đầu bạn sẽ phục hồi lại những
thiết lập ứng dụng mặc định cho Photoshop để những mô tả trong phần chỉ dẫn phù
hợp với những thiết lập trong vùng làm việc
của Photoshop.
Bài học này xoay quanh đồ hoạ trang chủ cho tổ chức du lịch giả tưởng.
1. Khởi động Photoshop trong khi nhấn phím Ctrl+Alt+Shift (window) hoặc Command
+Option+Shift (Mac OS) để phục hồi những ưu tiên mặc định. (Xem “Phục hồi những
ưu tiên mặc định” ở trang 4).
Khi những dòng thông báo xuất hiện, chọn Yes để xác định rằng bạn muốn thiết lập
lại những ưu tiên, chọn No để hoãn lại việc thiết lập màn hình màu của bạn,và
chọn Close để đóng lại màn hình Welcome.
2. Bấm nút File Browser trên thanh tuỳ chọn công cụ để mở nó ra.
3. Trong bảng các thư mục của File browser, xác định và chọn thư mục Lesson 16
trong thư mục Lesson.
Những ảnh nhỏ của 3 tập tin bắt đầu và kết thúc khác nhau xuất hiện trong bảng
chứa ảnh nhỏ, nhiều ảnh trong số những ảnh này có vẻ hoàn toàn giống nhau.
4. Chọn-nhưng không mở ra ảnh nhỏ có tên 16Start1.psd để ảnh này được sáng lên
và metadata xuất hiện trong bảng Metadata.

5. Chọn ảnh nhỏ có tên 16End1.jpg. Chú ý là kích thước tập tin được liệt kê
trong phần metadata thì nhỏ hơn nhưng ảnh này trong giống như ảnh 16Start1.psd.
6. Lần lượt chọn và xem trước những tập tin Start và End khác trong thư mục
Lesson 16.
7. Nhấp đúp tập tin ảnh 16Start1.psd để mở nó trong Photoshop. Đóng File Browser
lại bằng cách hoặc bấm vào nút có biểu tượng File Browser
trên thanh tuỳ chọn công cụ 2
lần (một lần để đưa nó về phía trước và một lần để đóng nó lại) hoặc bấm nút
Close trong cửa sổ của File Browser.
Tối ưu hoá 1 ảnh JPEG (Photoshop)
Trong bài học này, bạn sẽ tối ưu hoá những tập tin vừa ở dạng JPEG vừa ở dạng
GIF. Mục tiêu của bạn là thiết lập những lựa chọn tối ưu để những tập tin ảnh
của bạn nhỏ, hiệu quả nhưng vẫn đẹp mắt.
Hiện giờ, kích thước của ảnh 16Start1.psd lớn hơn mức lý tưởng để sử dụng trên 1
trang web. Bạn sẽ so sánh những dạng tập tin nén khác nhau để thấy ảnh nào có độ
nén cao nhất mà không mất đi quá nhiều chất lượng ảnh.
Sử dụng hộp thoại Save For Web
Hộp thoại Save For Web trong Photoshop cho bạn thấy những tấm ảnh đặt bên cạnh
nhau nhưng khác nhau do việc sử dụng những thiết lập tối ưu hoá khác nhau. Bạn
có thể so sánh các phiên bản khi làm việc, chỉnh các thiết lập tối ưu và tìm xem
những khác biệt cho đến khi bạn có được sự kết hợp khả dĩ giữa kích thước và
chất lượng của ảnh.
1. Với tập tin của ảnh 16Start1.psd đang mở và kích hoạt trong Photoshop, chọn
File >Save for Web.
Chú ý : Nếu thẻ 4-up chưa được chọn trong cửa sổ ảnh, hãy chọn nó.

Photoshop tự động đưa ra 3 thiết lập tối ưu ngoài ảnh gốc ra. Chú
ý thông tin được trình bày dưới mỗi ảnh gồm có kích thước tập tin và thời gian (tính
bằng giây) cần thiết để tải ảnh đó xuống. Bảng đầu tiên cho thấy ảnh gốc. Các
bảng thứ 2, 3, 4 thể hiện sự kết hợp khác nhau của việc thiết lập tối ưu đối với
ảnh này bao gồm dạng tập tin (như GIF hoặc JPEG) và giải thuật giảm màu (như
Selective, Perceptual hay Web)
2. Ở góc dưới trái của hộp thoại Save For Web, chọn 300% từ menu pop-up Zoom
Level để bạn có thể nhìn thấy những chi tiết của ảnh.
So sánh những ảnh với các thiết lập tối ưu khác nhau.
3. Bấm vào 1 trong 4 tấm ảnh để con trỏ biến thành biểu tượng hình bàn tay và
kéo ảnh để bạn có thể thấy những khác biệt giữa những ảnh đã được tối ưu hoá và
ảnh gốc.
4. Nhìn cẩn thận các vùng sau đây: văn bản ở góc dưới phải của ảnh, vùng trên
nắp hộp thư tương phản với nền trời màu xanh, bóng của cánh cửa rỉ sét của
hộp thư lớn,vùng nổi lên của hộp thư rỉ sét và những chi tiết khác của ảnh.

So sánh các dạng GIF, JPEG và PNG đã được tối ưu hoá
Bạn có thể tạo tuỳ biến bất kỳ ảnh nào trong 3 ảnh được tối ưu hoá trong hộp
thoại Save For Web. Để làm điều này, bạn chọn xem trước 1 trong những ảnh đã
được tối ưu hoá rồi chọn các thiết lập cho nó phía bên phải của hộp thoại. Qua
việc thử nghiệm với nhiều thiết lập khác nhau, bạn sẽ có được ý tưởng hay thiết
lập nào phù hợp nhất với mục đích của bạn.
Chú ý : Khi thực hiện các thao tác trong bài học này, hãy sử dụng công cụ định
tỉ lệ thường xuyên để bạn có được cái nhìn toàn cảnh của bức ảnh và thấy được
những chi tiết nhỏ cho bạn thấy những khiếm khuyết mà bạn không nhìn thấy ở độ
phóng đại nhỏ hơn. Mỗi thao tác đừng chờ những chỉ dẫn yêu cầu bạn phóng to hay
thu nhỏ.
1. Chọn ảnh xem trước đã được tối ưu hoá ở góc trên phải của hộp thoại Save For
Web.
2. Trong menu pop-up Preset bên phải hộp thoại, chọn GIF 128 Dithered (nếu ảnh
này chưa được chọn)
Thông tin được trình bày ngay bên dưới những thay đổi của ảnh xem
trước. (xem hình)

Hãy Chú ý nhóm điểm ảnh màu xậm quanh hộp thư bị sét bao phủ và trong phần nền
vuông xanh lá cây phía sau con số 4 trong biểu tượng.
Bạn sẽ dùng 2 phiên bản ở phía dưới của ảnh để so sánh việc tối ưu hoá của tập
tin GIF 128 Dithered với việc tối ưu hoá của dạng JPEG và PNG.
3. Bấm vào phiên bản ảnh ở góc dưới trái để chọn nó và chọn các
tuỳ chọn JPEG sau đây, mỗi thời điểm chọn 1 lần trên menu pop-up Preset:

Chú ý: Bạn có thể chọn mức độ chất lượng trung bình khác
cho tập tin JPEG bằng cách gõ vào hoặc kéo con trỏ về bên phải của hộp thoại
Save For Web.
Vì bạn đã thử các thiết lập khác nhau của dạng GIF và JPEG, bạn sẽ dùng ảnh xem
trước thứ tư để thử một dạng khác.
4. Chọn ảnh nằm ở góc dưới phải rồi sử dụng menu Preset để chọn dạng PNG-8 128
dithered.
Dù các kết quả này cho kích cở tập tin nhỏ hơn ảnh gốc, chất lượng ảnh không đẹp
bằng ảnh JPEG Medium, cũng có kích cở tập tin nhỏ hơn. Hơn nữa, nhiều trình
duyệt trước đây không đọc được dạng PNG. Để làm cho ảnh này tương thích với các
trình duyệt trước đây, bạn sẽ lưu tập tin này cho trang Web bằng cách sử dụng
độ tối ưu hoá của dạng JPEG Medium.
5. Chọn dạng JPEG Medium của ảnh đã được tối ưu (ở góc dưới trái của hộp thoại)
và chọn hộp kiểm Progressive.
Chú ý: Khi mục Progressive được chọn, bất kỳ khi nào việc tải hình ảnh
xuống bằng nhiều con đường xảy ra, mỗi con đường gia tăng chất lượng hình ảnh.

6. Bấm Save. Trong hộp thoại Save optimized as, dùng tên mặc định 16Start1.jpeg
và lưu tập tin này trong cùng thư mục với tập tin gốc của Photoshop.
7. Chọn File > Close để đóng tập tin 16Start1.psd và đừng lưu
những thay đổi của bạn.
Tối ưu hoá một ảnh dạng GIF
Bây giờ bạn sẽ tối ưu hoá một ảnh được cách điệu hoá thành những màu nhạt, có
nghĩa là những vùng mà các điểm ảnh kế bên nhau có giá trị màu RGB tương tự nhau.
Bạn sẽ tối ưu hoá ảnh này ở dạng GIF và so sánh các kết quả của bảng màu khác và
các thiết lập hoà sắc. Dù bạn có thể làm cả phần này trong Photoshop, bạn sẽ
dùng ImageReady.
Photoshop và ImageReady có nhiều đặc điểm chung nhưng có một số thao tác nào đó
bạn có thể làm trong Photoshop nhưng không thể làm được trong ImageReady và
ngược lại. Một số thao tác được thực hiện phù hợp hơn trong một trình ứng dụng
này hay trình ứng dụng khác.
Nếu bạn có một tập tin đang mở, khi bạn nhảy từ trình ứng dụng này sang trình
ứng dụng khác, tập tin sẽ nhảy sang trình ứng dụng bạn đang mở. Nếu bạn có nhiều
tập tin đang mở, chỉ có tập tin kích hoạt mới được mở trong trình ứng dụng mà
bạn vừa nhảy sang. Nếu không có tập tin nào được mở, bạn có thể nhảy tới hoặc
lui từ trình ứng dụng này sang trình ứng dụng khác. Trong mọi trường hợp, xử lý
chỉ là một cái bấm chuột.
Sử dụng không gian làm việc của ImageReady được xác định trước
Trước khi bắt đầu làm việc trên một tập tin mới, bạn sẽ nhảy từ Photoshop sang
ImageReady. Bạn sẽ sắp xếp lại vùng làm việc bằng cách chọn một trong những
không gian làm việc được xác định trước luôn luôn sẵn có trên menu con vùng làm
việc của ImageReady.
1. Trong Photoshop bạn bấm nút chuyển sang ImageReady ở cuối hộp công cụ để
chuyển từ Photoshop sang ImageReady.

Chú ý: Nếu bạn không có đủ bộ nhớ (ram) để chạy 2 trình ứng dụng này cùng
một lúc, thoát khỏi Photoshop và bắt đầu với ImageReady.
2. Trong ImageReady, chọn Window > Workspace > Optimization Palette Locations.
Chỉ có bộ Palette chủ yếu cần thiết cho thao tác tối ưu hoá được mở ra trong
vùng làm việc : Nhóm Palette tối ưu hoá và nhóm Palette Color Table, cùng với
hộp công cụ và thanh tuỳ chọn công cụ. Nếu bạn cần một Palette khác tại một thời
điểm nào đó, bạn có thể mở lại nó bằng cách chọn nó trên menu Window.
Chọn những thiết lập tối ưu trong ImageReady
Trước đây trong bài học này, bạn dùng các thiết lập tối ưu của
Photoshop được tích hợp trong hộp thoại Save For Web. Trong ImageReady, các tuỳ
chọn tương tự xuất hiện trong Palette Optimize.
1. Trong ImageReady, chọn File > Open và mở tập tin 16Start1.psd trong thư mục
Lesson16 trong thư mục Lesson.
Ảnh này được được tạo ra trong Adobe Illustrator và được mành hoá thành dạng
Photoshop. Ảnh này có chứa nhiều vùng màu đặc.
2. Bấm tab 2-up trong cửa sổ ảnh.

Phiên bản của ảnh được tối ưu hoá được chọn bên tay phải của cửa sổ.
3. Trong menu Preset pop-up trên Palette Optimize, chọn tập tin GIF 128 No
Dither.

4. Nếu cần, bấm mũi tên để mở rộng tuỳ chọn Color Table trên Palette Optimize
rồi chọn Perceptual trên Menu pop-up Reduction.

Chọn một giải thuật giảm màu
Một trong những cách giảm kích thước tập tin là giảm số màu trong ảnh. Photoshop
có thể tính toán những màu cần thiết nhất cho bạn dựa trên nhiều giải thuật sẵn
có. Bạn xác định giải thuật nào được sử dụng bằng cách chọn từ menu Color
Reduction Algorithm giải thuật nào bao gồm những tuỳ chọn sau đây:
Cảm nhận (Perceptual): Tạo một bảng màu thông thường bằng cách đưa ra
những màu ưu tiên mà mắt nguời có độ cảm nhận lớn hơn.
Chọn lọc (Selective): Tạo một bảng màu tương tự với bảng
màu Perceptual nhưng ưu tiên những vùng màu rộng và giữ lại những màu của trang
Web. Bảng màu này
thường tạo ra những ảnh có độ hoàn chỉnh màu lớn nhất. Phần chọn lọc (Selective)
là tuỳ chọn mặc định.
Thích nghi (Adaptive): Tạo bảng màu thông thường bằng cách
lấy mẩu những màu từ quang phổ thường xuất hiện nhất trong ảnh. Thí dụ, một ảnh
chỉ có màu xanh lá cây và xanh biển tạo ra một bảng màu chủ yếu chỉ có màu xanh
lá cây và xanh biển. Hầu hết các ảnh đều tập trung các màu vào những vùng đặc
biệt của quang phổ.
Web sử dụng bảng màu chuẩn gồm 256 màu thông thường đối với các bảng màu
Window và Mac OS 8-bit (256 màu). Hệ thống nấy đảm bảo được rằng không có sự hoà
sắc nào được áp dụng cho các màu khi những hình ảnh được thể hiện sử dụng màu 8
bit. Bảng này còn được gọi là bảng Web an toàn. Nếu hình ảnh của bạn có ít màu
hơn tất cả màu trong palette màu, những màu bất thường bị loại đi.
Tự tạo (Custom): Giữ lại bảng màu hiện hành như một bảng màu cố định
không cập nhật theo những thay đổi của hình ảnh.
Window hoặc Mac OS Sử dụng bảng màu mặc định của hệ thống là 256 màu dựa trên
mẫu thuần nhất của những màu RGB. Nếu ảnh của bạn có ít màu hơn số màu tổng cộng
trong palette màu, màu bất thường cũng bị loại.
Thanh trạng thái ở cuối cửa sổ ảnh thể hiện độ phóng đại và thông tin hữu ích
khác về ảnh được tối ưu hoá và ảnh gốc.

A. Kích thước tập tin và thời gian tải xuống hình ảnh đã được tối ưu hoá
B. Kích thước của ảnh được tối ưu hoá và ảnh gốc.
Bạn có thể tạo tuỳ biến cho loại thông tin xuất hiện ở đây.
5. Ở thanh trạng thái, chọn Size/Download Time (56.6 Kbps Modem/ISDN) trong menu
pop-up ở giữa rồi chọn Image Dimension từ menu pop-up bên phải.

Tốc độ tải xuống 56.6 Kbps thông thường hơn tốc độ 28.8 Kbps. Kích thước này thể
hiện kích cở của ảnh bằng những điểm ảnh. Đây là điều quan trọng cần biết để dự
định làm thế nào cho 1 ảnh phù hợp với 1 mẫu của trang Web được thiết kế trước.
Về bảng màu
Palette Color Table thể hiện những màu mà việc sử dụng tuỳ chọn
giảm màu dành cho tập tin được kích hoạt hiện hành. Số lượng màu dùng trong ảnh
này được liệt kê ở dưới đáy của palette với nhiều nút khác nhau.Bạn có thể lấy
lại kích cở của Palette hoặc dùng thanh cuộn để xem tất cả các màu.
Bạn cũng có thể thay đổi cách các màu được sắp xếp trong Palette
bằng cách bấm chuột vào mũi tên nhỏ để menu palette Color Table rồi chọn phương
pháp phân loại : theo sắcmàu, theo độ sáng, hoặc theo mức độ phổ biến thường
dùng.
Những biểu tượng khác nằm ngay trên bảng màu mẫu cho biết mẫu màu
hiện hành (nếu mẫu màu được chọn),cho dù một màu có bị khoá lại hay không, và
cho dù một màu là màu bị giới hạn trên trang (web). Bạn sẽ học hỏi thêm nhiều về
việc nhận diện và sử dụng những đặc điểm này khi tiến hành qua bài học này.
Chú ý: Trong Photoshop, bảng Color Table nằm trong hộp
thoại Save For Web.
Điều khiển độ hoà sắc và các màu giảm
Bạn có thể thấy rằng một số vùng nào đó của ảnh bị lốm đốm.
Hiện tượng lốm đốm này là do độ hoà sắc. Kỹ thuật này được dùng để nhái những
màu không có trong bảng màu. Thí dụ, màu xanh biển và màu vàng có thể hoà trộn
theo một mẫu (gồm những mảnh màu nhỏ được ghép lại với nhau) để tạo ra một ảo
giác có một màu xanh lá cây không nằm trong bảng màu.
Khi tối ưu hoá hình ảnh, hãy Chú ý 2 loại hoà sắc có thể xảy ra:
-
Hoà sắc ứng dụng: xảy ra khi ImageReady hoặc Photoshop
cố nhái những màu có trong ảnh gốc nhưng không có trong bảng màu tối ưu mà
bạn xác định. Bạn có thể điều khiển độ hoà sắc ứng dụng bằng cách kéo con
trượt Dither vào bảng Optimize.
-
Hoà sắc trình duyệt: có thể xảy ra bên cạnh hoà sắc
ứng dụng. Hoà sắc trình duyệt xảy ra khi một trình duyệt web sử dụng những
màu nhái 8 bit (256 màu) xuất hiện trong bảng màu của ảnh được tối ưu hoá
nhưng không nằm trong bảng hệ thống do trình duyệt web sử dụng. Bạn có thể
điều chỉnh độ hoà sắc trình duyệt bằng cách di chuyển những màu được chọn
vào những màu web an toàn trong bảng Color Table.
Trước khi bạn tối ưu hoá nhiều hơn, hãy phóng lớn ảnh tới 200%
hoặc hơn và so sánh các vùng chuyển tiếp giữa những ảnh thật và nền màu đặc
trong cả 2 phiên bản: Ảnh được tối ưu hoá và ảnh gốc được tối ưu hoá. Trong ảnh
gốc, ảnh chụp cách điệu mờ dần vào nền. Trong ảnh được tối ưu hoá, sự dịch
chuyển mang tính đột ngột và có các đường biên thô. Cũng vậy, hãy Chú ý những
dãy màu mây hình cầu vòng ở vùng phía trên bên phải của ảnh thung lũng.
Giảm palette màu
Để nén kích cở tập tin được nhiều hơn, bạn có thể giảm lượng màu trong bảng
Color Table. Phạm vi số màu bị giảm thường giữ lại chất lượng hình ảnh đẹp trong
khi giảm dung lượng tập tin cần thiết để lưu trữ những màu thừa một cách ngoạn
mục.
Hiện giờ, 128 màu tạo ra tập tin 16Start1.psd được thể hiện trong tuỳ chọn
Colors trong bảng Optimize bên dưới Color Table. Mục tiêu cuối cùng của bạn
trong cả phần này là giảm con số màu xuống còn 32 mà không làm hỏng đi bức ảnh.
1. Đảm bảo rằng ảnh tối ưu hoá được chọn và cảm nhận (Perceptual) được chọn
trong bảng Optimization. Chú ý kích cở tập tin hiện hành.
2. Trên menu pop-up zoom ở đáy cửa sổ ảnh, chọn 200% hoặc lớn hơn hoặc sử dụng
công cụ phóng đại để phóng lớn tấm ảnh của bạn. Đảm bảo rằng bạn phóng đại
đủ lớn để bạn bắt đầu thấy hiện tượng điểm ảnh hoá của ảnh.
3. Dùng công cụ Hand Tool
,
chọn ảnh bên phải của thẻ 2-up và kéo để bạn có thể nhìn thấy những điểm sau đây:
Bóng râm của cây dương, một số cây ở thung lũng đá và đỉnh núi với màu xanh da
trời nhạt bên phải của nó.

4. Trong tuỳ chọn Colors trong bảng Optimize, gõ hoặc chọn số 32 trong menu
pop-up.

Chú ý độ giảm đáng kể của kích cở tập tin nhưng có 3 vấn đề. Bóng giữa những
hàng cây dương bây giờ là màu nâu sậm thay vì là màu xanh lá cây sậm, trong khi
những cây ở hình thung lũng là màu xanh lá cây sậm thay vì màu nâu. Những đám
mây trên bầu trời thung lũng màu nâu có sọc rõ rệt trong đa sắc màu.

5. Chọn lại trị số 128 trong tuỳ chọn Colors Một cách hiển nhiên, chỉ đơn thuần
giảm bảng màu thì không giải quyết được vấn đề này. Đây không phải là ý kiến
hay. Tuy nhiên, có một số kỹ thuật mà bạn sẽ thử sắp tới đây sẽ cho những kết
quả khả quan hơn.
Tăng độ hoà sắc để tạo giả những màu bị thiếu
Trước khi bắt đầu phương thức này, bảo đảm là bảng Optimize vẫn
còn thể hiện tuỳ chọn Perceptual as the Reduction và
trị số 128 đối với Colors. Trong hình thung lũng, Chú ý dãy màu nâu kiểu
gradient trong những đám mây. Bạn sẽ tập trung vào phần này của ảnh và bóng cây
dương khi bạn chỉnh sửa trong chủ đề này.
1. Bên dưới mục Dither trong bảng Optimize, chọn Diffuse trong menu pop-up
Method và kéo con trượt đến 100%.

Bây giờ một mẫu đốm làm dịu sự chuyển tiếp màu sắc và vùng mây. Bất kỳ sự thay
đổi nào trong vùng cây dương đều không đáng chú ý
2. Chọn lại trị số 32 trong tuỳ chọn Colors.
Hình cây dương trông có vẻ thậm chí còn tệ hơn trước đây. Vùng
này có màu xanh lá cây sậm giờ đây xuất hiện những đốm nâu sậm trên màu xanh lá
cây vừa. Những đám mây trong vùng thung lũng trông phẳng hơn nhưng bầu trời trên
thung lũng và những ảnh núi - cả hai trước đây đều là những màu thuần nhất thì
bây giờ có đốm.
3. Kéo con trượt Dither xuống 50% và thử với những tỉ lệ khác.
ImageReady giảm thiểu tối đa độ hoà sắc trong ảnh này nhưng không
có tỉ lệ hoà sắc nào sẽ giữ những bóng đổ mà không làm tổn hại đến nền xanh lá
cây. Cũng vậy, giảm tỉ lệ độ hoà sắc sẽ tạo ra những sọc đa sắc trong những đám
mây bên trên thung lũng.
4. Chọn lại Dither tới 100%
5. Chọn lại tuỳ chọn Colors là 128. (Giữ nguyên những thiết lập
của Dither.)
Bóng cây dương một lần nữa lại biến thành màu xanh lá cây sậm và các đốm thì
không hiện rõ. Trong khi kích thước tập tin nhỏ hơn ảnh gốc chưa được tối ưu hoá,
ảnh được tối ưu hoá hơi lớn hơn một chút mà không có hoà sắc. Bạn còn nhiều việc
phải làm để tối ưu hoá tập tin này, hãy sang chủ đề kế tiếp.
Phần minh hoạ hiệu ứng tỉ lệ độ hoà sắc khác nhau trên một ảnh, xem hình 16-2
trong phần màu sắc.
Khoá các màu để giữ lại các chi tiết của hình ảnh
Trong các phương thức trước đây, bạn thấy cách giảm số lượng màu
có thể làm mất một số chi tiết trong ảnh, thậm chí sau khi bạn tăng độ hoà sắc.
Bây giờ bạn sẽ học cách khoá những màu đặc biệt để đảm bảo những màu này không
bị giảm trong bảng màu.
Khi bắt đầu thao tác này, đảm bảo bảng Optimize thể hiện
Perceptual, 128 màu và thiết lập độ hoà sắc là 100%.
1. Trong hộp công cụ, chọn công cụEyedropper và bấm chọn màu xanh lá cây sậm
nhất. Bạn sẽ thấy trong bóng cây dương lấy mẫu màu đó.
Chú ý là hiện giờ màu xanh lá cây sậm xuất hiện trong bảng Foreground Color
swatch trong hộp công cụ và mẫu màu li ti đối với màu xanh lá cây sậm trong
Color Table sáng lên với đường biên màu trắng.

2. Bấm biểu tượng hình chiếc khoá
ở cuối bảng Color Table để
khoá màu xanh lá cây được chọn. Khoá một mẫu màu dành ưu tiên cho những màu
không bị khoá. Nếu bạn giảm đi số lượng màu từ 128 xuống trị số thấp hơn, những
màu bị khoá không đụng với danh sách những màu không bị khoá.
3. Trong bảng Optimize, trả giá trị Colors về trị số 32
Bây giờ bóng màu xanh lá cây trông đẹp mắt nhưng hãy Chú ý sự hoà
sắc có đốm này đã đi vào trong vùng bầu trời trong thung lũng màu nâu và những
vùng núi màu xanh của ảnh, bắt đầu trông giống như một cơn bão tuyết. Một lần
nữa, những cây trong thung lũng lẽ ra là màu nâu thì lại là màu xanh lá cây sậm.
Dù vậy bạn nên tiếp tục cố gắng.
4. Nhấn giữ thanh spacebar để con trỏ thay đổi từ biểu tượng công cụ Eyedropper
thành biểu tượng bàn tay
. Kéo
tấm ảnh để phân nữa ảnh bị che bởi ảnh thung lũng và phân nữa ảnh bị che bởi ảnh
núi.

5. Trong palette Optimize, chọn trị số 128 trong tuỳ chọn Colors.
Tiếp tục sang chủ đề kế tiếp, bạn sẽ khoá được nhiều màu hơn cho
đến khi ảnh có được kết quả chấp nhận được.
Chú ý: Bạn có thể mở một màu đã bị khoá bằng cách chọn mẫu
màu trong Color Table và bấm nút Lock một lần nữa.
Khoá nhiều màu để ngăn chận độ hoà sắc không mong muốn
Một thách thức khi làm việc với 32 màu là tìm được 32 màu lý
tưởng. Như bạn đã thấy trong phương thức trước đây, chỉnh sửa một hiệu ứng hoà
sắc không mong muốn hoặc dịch chuyển màu trong một vùng có thể phát sinh một số
vấn đề trong một số vùng nào đó.
Thà là bỏ đi quá trình khoá màu, bạn sẽ tiếp tục chỉnh lại hình
ảnh bằng cách khoá nhiều màu. Bạn sẽ chọn lựa nhiều lần giữa 32 màu và 128 màu.
Khoá màu gốc khi giảm xuống 32 màu sẽ gây ra độ hoà sắc không mong muốn hoặc có
sự thay đổi màu sắc. Bạn khoá một màu một lần nữa, điều quan trọng là xem lại cả
tấm ảnh một cách thận trọng để xem việc khoá màu đã đưa đến những hệ luỵ nào.
1. Chọn công cụ Eyedropper và bấm chọn màu nâu sậm hiện giờ đang nằm chính giữa
những cây trong ảnh thung lũng. Bấm nút Lock ở dưới đáy bảng Color Table để khoá
màu được chọn.

Một hình vuông nhỏ xuất hiện trong thẻ swatch cho thấy màu này đã bị khoá.
2. Lập lại bước 1 thêm 3 lần nữa, lấy mẫu và khoá các phần sau
đây:
-
Vùng trời màu nâu vừa trong vùng thung lũng.
-
Vùng trời nâu sậm góc trên trái của đỉnh núi.
-
Vùng trời xanh nhạt bên phải đỉnh núi.

3. Giảm tuỳ chọn Colors xuống trị số 32.
4. Nhấn giữ thanh spacebar để con trỏ biến thành biểu tượng bàn tay và kéo ảnh
để bạn có thể thấy bìa rừng phía trước núi, phần số 4 và văn bản ở góc dưới phải
của ảnh. Bây giờ chóp đỉnh trong ảnh màu xanh bị hoà sắc không thể chấp nhận
được.
5. Thay đổi số lượng màu về trị số 128 và sử dụng cùng một kỹ thuật mà bạn áp
dụng ở bước 1 và 2 để khoá màu xanh sậm ở phần chóp đỉnh rồi trở lại tuỳ chọn
Colors chọn trị số 32.
Phần chóp đỉnh trông rất đẹp nhưng giờ đây phần văn bản màu khaki bị hoà sắc đến
độ nó trông giống như hoa giấy sặc sỡ. Cố lên; bạn sắp đạt tới mục tiêu rồi đó.
6. Trả số lượng màu về trị số 128 và dùng kỹ thuật mà bạn đã sử dụng ở bước 1 và
bước 2 để khoá màu. Trong tuỳ chọn Colors, chọn trị số 32.
7. Khảo sát từng vùng của ảnh để đảm bảo rằng không có sự dịch chuyển nào của
màu sắc rồi chọn File > Close.
Nếu bạn muốn làm như thế, bạn có thể tiếp tục khoá các màu, chẳng hạn như màu
sậm hơn ngay chính giữa cây cau dừa hoặc một số màu khác.
Chú ý: Có sự hoà sắc không thể tránh khỏi được chẳng hạn như những vùng
được tô màu ở chế độ gradient. Mỗi một trong 4 khối ảnh màu có chế độ gradient
tách nền màu đặc khỏi ảnh mà nó chứa. Hoà sắc là chọn lựa tốt nhất để hài hoà
hiệu quả của ảnh và ngoại hình của ảnh đối với những thay đổi màu gradient.
Nếu bạn thử nghiệm với việc tối ưu hoá các tập tin ảnh, bạn sẽ thấy rằng độ nhạt
màu của ảnh có thể xảy ra khi bảng màu bị giảm dưới 32 màu. Thật vậy, hầu như
những tấm ảnh đơn giản nhất, thậm chỉ 32 màu, cũng có thể bị giảm sút đáng kể.
Đối với việc nén một tập tin ảnh dạng GIF, cố gắng dùng số lượng màu ít nhất để
thể hiện chất lượng mà bạn cần.
Phần minh họa ảnh ở những giá trị của palette khác nhau, xem hình 16-1 ở phần
màu.
Giảm thiểu độ hoà sắc trình duyệt
Trong Photoshop, hộp thoại Save For Web và trong ImageReady, bạn có thể xem hoà
sắc ứng dụng trực tiếp trong ảnh đã được tối ưu hoá. Bạn cũng có thể xem trước
hoà sắc trình duyệt phụ xuất hiện trong ảnh cuối cùng khi xem trong 1 trình
duyệt sử dụng chế độ xem 8 bit.
Như bạn đã biết trước đây, những ảnh bao gồm các màu không an
toàn web phải trải qua quá trình hoà sắc khi thể hiện trong 1 trình duyệt web ở
chế độ 8 bit vì trình duyệt mô phỏng màu không xảy ra trong bảng hệ thống 8 bit.
Từ ImageReady, bạn có thể xem trước cách một ảnh được tối ưu hoá sẽ như thế nào
khi được hoà sắc trong 1 trình duyệt Web.
Để bảo vệ một màu không bị hoà sắc trong trình duyệt, bạn có thể
dịch chuyển web màu đó, đổi màu đó ra một giá trị tương đương gần nhất trong
bảng Web. Ví dụ bảng Web bao gồm những mảng màu phụ xuất hiện trong cả bảng hệ
thống Window và Mac OS. Các màu trong bảng Web thể hiện mà không hoà sắc trong
các trình duyệt trên bất cứ nền nào.
1. Với tập tin ảnh 16Start2.psd được mở ra, chọn View > Preview > Browser Dither
( để dấu kiểm xuất hiện bên cạnh dòng lệnh.) Chú ý rằng hoà sắc trình duyệt xảy
ra trên bầu trời và dốc của ảnh thung lũng cho dù bạn đã khoá màu nâu vừa của
bầu trời trước đây trong bài học này. Bạn sẽ dịch chuyển web màu đó để giảm độ
hoà sắc trình duyệtn trong ảnh này.
Chú ý: Nếu bạn không thấy độ hoà sắc, tăng độ phóng lớn hoặc tắt phần xem
trước hoà sắc trình duyệt rồi trở về để quan sát hiệu ứng. Bạn có thể bật/tắt
phần xem trước hoà sắc trình duyệt bằng cách nhấn phím Ctrl+Shift+Y (Windows)
hoặc Command+Shift+Y (Mac OS)
2. Thoát ra khỏi chế độ xem trước trình duyệt nhưng lần này nhấn nút
Ctrl+Shift+Y (Window) hoặc Command+Shift+Y (Mac OS) hoặc bạn có thể dùng lệnh
View > Preview > Browser Dither một lần nữa.
3. Chọn công cụ Eyedropper và bấm vào bất kỳ nơi nào trên vùng bầu trời thung
lũng. Màu mẫu được chọn trong bảng Color Table.

4. Bấm nút Web-shift
ở đáy
bảng Color Table.

Mẫu màu đổi vị trí trong bảng và một viên kim cương nhỏ xuất hiện chính giữa mẫu
màu cho thấy rằng nó đã được dịch chuyển sang màu tương đương gần nhất của Web.
5. Sử dụng cùng một kỹ thuật, chọn một mẫu màu nâu nhạt hơn trên dốc của thung
lũng và bấm nútWeb-shift một lần nữa.
6. Chọn View > Preview > Browser Dither, hoặc nhấn Ctrl+Shift+Y (Window) hoặc
Command+Shift+Y(Mac OS) để xem trước tập tin trong chế độ này.
Hoà sắc trình duyệt mất đi khỏi những vùng được chọn và phần còn lại của ảnh là
có thể chấp nhận được.
7. Chọn View > Preview > Browser Dither để bỏ chọn nó rồi chọn File > Save.
Bằng cách dịch chuyển web nền màu nâu, bạn đổi màu của nó thành một màu có thể
hiển thị mà không bị hoà sắc bởi trình duyệt Web trên hệ thống 256 màu.
Chú ý: Trong Photoshop CS và ImageReady CS bạn có thể chuyển đổi nhanh
một màu sang màu khác hoặc sang độ trông suốt.Việc chuyển đổi này gán lại tất cả
những điểm ảnh xuất hiện ở màu chọn thành màu mới hoặc trông suốt. Để biết thêm
thông tin, xem phần trợ giúp của ImageReady.
Tối ưu hoá các Slice
Các nhà thiết kế chuyên nghiệp thường kết hợp các loại nguồn ảnh khác nhau thành
một ảnh đơn thuần trong Photoshop hoặc ImageReady. Thí dụ, bạn có thể tạo một
tập tin ảnh gồm những ảnh có những vùng màu nhạt và kiểu in kết hợp với những
ảnh có tông màu liên tục hoặc những ảnh khác ở chế độ tô màu theo tỉ lệ và bóng
phức tạp. Rất khó đạt được những kết quả thoả đáng khi tối ưu hoá những ảnh như
thế nếu chỉ sử dụng đơn thuần một phương án tối ưu hoá.
Nếu bạn chia ảnh thành từng slice, bạn có thể tối ưu hoá từng slice rời biệt lập.
Thí dụ, bạn có thể ứng dụng việc tối ưu hoá dạng GIF cho một số vùng trong 1 ảnh
trong khi đó ứng dụng việc tối ưu hoá dạng JPEG hoặc PNG cho các ảnh khác. Để
làm điều này, bạn chỉ việc chọn một slice riêng (dùng công cụ chọn slice) và
thiết lập tuỳ chọn tối ưu hoá trong hộp thoại Save For Web (Photoshop) hoặc bảng
Optimize (ImageReady).
Xác định độ trong suốt của phần nền
Bạn có thể sử dụng độ trong suốt của phần nền để đặt một đối tượng đồ họa không
phải là hình chữ nhật lên nền của trang Web; những vùng ngoài biên của đối tượng
được xác định là trong suốt, để màu nền của trang Web thể hiện xuyên suốt. Bạn
có thể xác định độ trong suốt của phần nền đối với các ảnh dạng GIF và PNG.
Chuyển đổi lớp nền (Background) thành lớp bình thường
Trước khi bạn sử dụng khả năng của tập tin dạng GIF để giữ lại độ trong suốt,
bạn phải tạo độ trong suốt trong ảnh của bạn. Bạn sẽ làm điều đó bằng cách dời
đi phông màu trắng xung quanh ảnh. Để bắt đầu tiến trình này, đầu tiên bạn sẽ
chuyển đổi lớp Background thành lớp bình thường vì lớp Background luôn luôn bị
khoá và không thể có độ trong suốt.
1. Đảm bảo rằng tập tin 16Start2.psd đang được mở trong ImageReady.
2. Chọn ảnh gốc bên trái của cửa sổ ảnh.
3. Chọn Fit on Screen từ menu Zoom Level ở góc phía trái bên dưới của cửa sổ ảnh.
4. Chọn Window > Layer để mở bảng Layers rồi mở menu của bảng layers và chọn
Layers Options.

5. Bấm OK để đóng hộp thoại Layer Options mà không thay đổi những thiết lập mặc
định ( kể cả tên Layer 0). Lớp này giờ đây xuất hiện trong bảng Layer là Layer
0.

Layer Background không thể chứa bất cứ thông tin nào về độ trông suốt vì theo
định nghĩa, không có gì phía sau nó được nhìn thấy. Nếu bạn cố gắng dùng một
trong những kỹ thuật thường có thể thay thế các điểm ảnh màu bằng những điểm ảnh
trông suốt, kết quả sẽ là các điểm ảnh gốc sẽ được chuyển thành màu nền được
chọn hiện hành thay vì trở thành những điểm ảnh trông suốt.
Sử dụng công cụ Magic Eraser để tạo độ trông suốt
Trong phần này của bài học bạn sẽ sử dụng công cụ Magic Eraser để chuyển đổi
nhanh nền màu trắng phía sau các ảnh và chữ viết thành các điểm ảnh trông suốt.
Tuy nhiên, bạn không muốn xoá bất kỳ điểm ảnh màu trắng nào có thể xuất hiện bên
trong những tấm ảnh màu. Bạn sẽ hoàn tất điều này qua 2 bước.
1. Đảm bảo rằng ảnh gốc bên trái của cửa sổ ảnh được chọn. Bạn có thể xoá những
điểm ảnh nền chỉ trong ảnh chưa được tối ưu hoá, chứ không phải trong ảnh đã
được tối ưu hoá.
2. Chọn công cụ Magic Eraser là công cụ ẩn nằm dưới công cụ Eraser.
3. Trong thanh tuỳ chọn công cụ, đảm bảo rằng hộp kiểm Contiguous đang được chọn.
4. Bấm vào nền trắng xung quanh những ảnh màu.

Mẫu checkerboard thay thế nền trắng cho thấy rằng vùng này trong suốt
5. Bấm chọn vùng màu trắng hình chữ nhật đang nằm chính giữa 4 khối màu.

Giờ đây hầu hết phông nền màu trắng đã bị xoá ngoại trừ những hòn đảo nhỏ gồm
những điểm ảnh màu trắng trong vùng có chữ được khép kín.
Chuyển đổi những vùng màu trắng bị cô lập thành trong suốt
Công cụ Magic Eraser không xoá những vùng màu trắng bị cô lập trong vùng chữ vì
tuỳ chọn Contiguous đang được chọn trong thanh tuỳ chọn công cụ.
Một cách để chỉnh sửa điểm này là phóng to ra và bấm vào mỗi vùng màu trắng
trong các chữ, giống y như bạn bấm vào hình chữ nhật màu trắng nằm giữa ảnh.
Thay vì thế, bạn sẽ sử dụng một phương pháp hoạt động hữu hiệu hơn nhiều trong
những trường hợp có một số lớn các vùng nhỏ nằm rải rác mà bạn muốn xoá trong
khi muốn giữ lại những vùng có các điểm ảnh màu tương tự mà bạn không muốn xoá.
1. Trong thanh tuỳ biến công cụ đối với công cụ Magic Eraser, bỏ tuỳ chọn
Contiguous.

2. Chọn công cụ Rectangular Marquee và cẩn thận vẽ một vùng chọn hình chữ nhật
bao quanh chữ Corners trong ảnh gốc nằm bên trái.

3. Bấm giữ phím Shift để con trỏ biến thành biểu tượng 1 dấu cộng nhỏ xuất hiện
và kéo 1 vùng chọn khác hình chữ nhật quanh chữ “Travel” và chữ “of”. Hai vùng
chọn trở thành một vùng. (Bạn có thể tạo vùng chọn riêng biệt cho chữ “of” nếu
bạn thích giữ phím Shift và kéo để gia tăng vùng chọn. Hoặc bạn có thể thêm 1
khối màu vàng nhỏ khi bạn chọn chữ “Travel” và chữ “of”.)

4. Chọn công cụ Zoom và phóng lớn để bạn dễ nhìn thấy những vùng nằm trong vùng
chọn (khoảng 300%).
5. Chọn công cụ Magic Eraser rồi cẩn thận bấm vào nền màu trắng trong chữ “O”.

Các điểm ảnh màu trắng trong chữ “O” được chuyển đổi thành các điểm ảnh trong
suốt, tương tự các điểm ảnh trong chữ “A” và “R” trong chữ “Travel” và chữ “O”
trong chữ “of” cũng có tác dụng như vậy.
6. Chọn Select > Deselect rồi chọn File > Save.
Hoàn tất bảng Color Table
Mặc dù người ta ít nghĩ độ trong suốt là một màu, nó không được xem như 1 trong
32 màu trong bảng màu đối với hình ảnh.Điều này có nghĩa là bạn cần lại hình ảnh
một lần nữa để tìm ra bất kỳ độ hoà sắc nào không thể chấp nhận được gây ra do
sự chuyển dịch sang độ trong suốt.
1. Cuộn hoặc chọn công cụ bàn tay và kéo để xem xét tất cả các vùng của ảnh.
Chú ý hiện giờ có độ hoà sắc nặng trong vùng màu xanh xung quanh cây dương.
2. Chọn ảnh đã được tối ưu hoá nằm bên phải cửa sổ ảnh.
3. Trong tuỳ chọn Color của palette Optimize, chọn trị số 128.
4. Chọn công cụ Eyedropper và bấm chọn vùng màu xanh vừa góc trên bên phải của
ảnh cây dương.

5. Trong bảng Color Table, bấm vào biểu tượng ổ khoá để khoá màu.

6. Trong palette Optimize, chọn trị số 32 là số lượng màu.
7. Cuộn hoặc sử dụng công cụ bàn tay để xem hình một lần nữa, xác định rằng ảnh
đã có sự cân bằng hài hoà giữa độ hoà sắc và kích thước tập tin. Chọn File >
Close.
Xem trước độ trong suốt
Bây giờ bạn sẽ xem trước độ trong suốt trong trình duyệt của bạn. Vì đặc điểm
xem trước trong ImageReady thể hịên hình ảnh này trên trang web với nền trắng,
bạn sẽ thay đổi màu của ảnh để có thể thấy độ trong suốt.
1. Trong cửa sổ ảnh, chọn ảnh đã được tối ưu hoá (nằm bên phải)
2. Trong bảng Optimize, đảm bảo hộp kiểm Transparency được chọn.

Chọn Transparency chuyển đổi những vùng trong ảnh gốc với độ mờ đục nhỏ hơn 50%
sang độ mờ đục nền trong ảnh đã được tối ưu hoá.
3. Chọn mẫu Matte trong palette Optimize để mở color picker rồi chọn bất kỳ màu
gì trừ màu trắng. Bấm OK để đóng color picker.

4. Chọn File > Preview In và chọn trình duyệt web từ menu con
Chú ý: Để sử dụng lệnh Preview In, bạn phải có một trình duyệt Web cài
trên hệ thống của bạn.
Nếu ảnh chưa mở ra, trình duyệt đầu tiên bắt đầu rồi hiện ảnh đã được tối ưu hoá
ở góc trên trái của cửa sổ trình duyệt. Trình duyệt này cũng cho biết kích thước
điểm ảnh, kích thước tập tin, dạng tập tin và các thiết lập tối ưu hoá cho ảnh
cùng với mã HTML được dùng để tạo ra phần xem trước.

5. Thoát khỏi trình duyệt khi bạn kết thúc phần xem trước ảnh.
Xén vùng nền thừa
Dù phần nền của ảnh tổ chức du lịch giả tưởng hiện giờ có chứa các điểm ảnh
trông suốt nhưng không thể hiện, những điểm ảnh này vẫn còn chiếm không gian tập
tin, tăng thêm kích thước của ảnh. Bạn có thể xén đi phần vùng nền không cần
thiết để cải thiện bố cục của ảnh và tối ưu hoá kích thước tập tin.
1. Trong ImageReady, chọn Image > Trim.
Bạn sử dụng lệnh Trim để xén ảnh theo độ trông suốt hoặc màu điểm ảnh của vùng
biên thừa.
2. Trong hộp thoại Trim, chọn các điểm ảnh trông suốt nếu chưa được chọn và bấm
OK.

ImageReady xén vùng trông suốt thừa ra khỏi ảnh.
3. Chọn File > Save Optimized As.
4. Trong hộp thoại Save Optimized As, dùng tên mặc định (16Start2.jpg) và bấm
chọn Save.
5. Trong hộp thoại Replace Files, bấm Replace (nếu nó xuất hiện)
6. Chọn File > Close.
7. Bạn sẽ được nhắc để lưu tập tin
16.Start2.psd trước khi đóng nó lại. Đối với bài học này bạn đã kết thúc với tập
tin này nên không cần lưu những thay đổi cuối cùng.
Tạo sự trong suốt hoà sắc
Trong phần này của bài học 16, bạn sẽ tạo một độ trong suốt hoà sắc cho 1 ảnh đồ
hoạ được dùng trong 1 vùng khác của Web site cho tổ chức du lịch giả tưởng. Bằng
cách tạo một độ hoà sắc từ bóng đổ mờ đục thành trông suốt, bạn sẽ có thể tạo ra
một sự chuyển dịch uyển chuyển từ ảnh này sang phông nền thuộc bất kỳ màu nào
trên trang mà không phải làm lại bất cứ việc gì.
Bạn sẽ làm điều này trong 2 thủ tục. Đầu tiên bạn sẽ áp dụng một hiệu ứng bóng
đổ vào ảnh. Tiếp đến bạn sẽ thêm độ hoà sắc vào bóng đổ để nó pha trộn thành màu
nền cho trang Web. Bạn có thể làm điều này trong Photoshop và ImageReady, sử
dụng các phương pháp điều khiển giống nhau trong những vị trí hơi khác một chút.
Thêm 1 bóng đổ
Tập tin bạn sẽ làm việc có tác dụng như một ảnh mà những người sử dụng bấm vào
để mở trên 1 trang khác của Web site. Bạn sẽ thêm 1 bóng đổ vào nút này để làm
cho ảnh nổi lên trên phần nền, nhấn mạnh rằng nó là thành phần tương tác của
trang này.
1. Chọn File > Open rồi chọn tập tin 16Start3.psd trong thư mục Lesson16 của thư
mục Lesson.
2. Nếu cần, chọn Window > Layers để mở bảng Layers rồi chọn layer1 nếu nó chưa
được chọn.
3. Chọn nút Add A Layer Style ở cuối bảng layers rồi chọn Drop Shadow từ menu.
4. Trong hộp thoại Layer Style, nhập vào các giá trị như sau:
-
Đối với mục Opacity kéo con trượt hoặc gõ vào giá trị 65%.
-
Đối với mục Distance, kéo con trượt hoặc gõ vào trị số15px.
-
Đối với mục Spread, kéo con trượt hoặc gõ vào trị số 10%.
-
Đối với Size, kéo con trượt hoặc gõ vào trị số 15px.
5. Bấm chọn OK để đóng hộp thoại Drop Shadow.

6. Chọn File > Save.
Thêm độ hoà sắc trong suốt vào bóng đổ
Như bạn đã biết, hoà sắc chính là 1 phương pháp tạo sự chuyển
tiếp màu trong bảng màu giới hạn. Điều này hữu ích đối với các trang Web vì bạn
có thể bắt chước sự giảm màu liền lạc hơn mà không làm ảnh hưởng đến kích cở tập
tin và tải xuống nhanh.
1. (Chỉ áp dụng trong Photoshop) Với tập tin 16Start3.psd đang mở, chọn File >
Save For Web để mở hộp thoại Save For Web. Bước này không cần thiết trong
ImageReady.
2. Bấm thẻ Optimized trong hộp thoại Save For Web (Photoshop) hoặc cửa sổ ảnh (ImageReady)
rồi thiết lập các tuỳ chọn sau đây bên phải hộp thoại Save For Web (Photoshop)
hoặc bảng Optimize (ImgeReady):
-
Trong menu Preset, chọn GIF 128 Dithered.
-
Chọn hộp kiểm Transparency nếu hộp này chưa được chọn.
-
Trong menu Dither dành cho Transparency, chọn Diffusion.
-
Trong tuỳ chọn Amount, dùng con trượt hoặc nhập trị số 64%.

3. Bấm Matte swatch để mở hộp Color Picker. Chọn bất kỳ màu nào khác màu trắng
và bấm OK. (Chúng tôi chọn R=250, G=234, B=212), màu nâu nhạt làm nổi bật những
màu xanh trong ảnh hộp thư.
Để thấy được hiệu ứng của thiết lập lưới (matte), cố gắng phóng
lớn khoảng 400% và thậm chí tới 1600% là tối đa để bạn nhìn thấy các điểm ảnh
riêng rẻ trong độ hoà sắc. Chú ý rằng các điểm ảnh nằm sát rìa của hộp thư và
vùng khung màu xanh là màu sậm,và những màu khác gia tăng độ hoà trộn với màu
matte ở vị trí nằm xa rìa. Thu nhỏ lại còn 100%.

4. Làm 1 trong các việc sau:
-
(Trong Photoshop) Ở đáy hộp thoại Save For Web, bấm vào nút
có biểu tượng trình duyệt hoặc bấm mũi tên để chọn trình duyệt từ menu.
-
(Trong ImageReady) Sử dụng nút Preview In Default Browser
hoặc menu con Preview In trên menu File để mở tập tin trong 1 trình duyệt.
5. Trong trình duyệt, Chú ý cách bóng đổ được hoà trộn vào màu
matte nền. Khi xem xong tài liệu, đóng trình duyệt hoặc trở về Photoshop hay
ImageReady

6. Bấm nút Save trong hộp thoại Save For Web (Photoshop) hoặc chọn File > Save
Optimized (ImageReady).
7. Trong hộp thoại Save Optimized, chấp nhận các thiết lập mặc định và tên của
tập tin (16Start3.jpg) và lưu tập tin trong Lessons/Lesson16 folder.
8. Chọn File > Save để lưu tập tin 16Start3.psd hoặc đóng tập tin lại không cần
lưu.
Tối ưu hoá tập việc xử lý hàng loạt tập tin
ImageReady hỗ trợ việc xử lý hàng loạt qua việc sử dụng Droplets - biểu tượng
chứa những hoạt động dành cho ImageReady để thực hiện trên 1 hoặc nhiều tập tin.
Droplets dễ tạo và dễ sử dụng. Để tạo một droplet, bạn kéo biểu tượng droplet ra
khỏi bảng Optimize vào trong desktop. Để sử dụng nó, bạn kéo 1 tập tin hoặc 1
thư mục qua biểu tượng droplet trên desktop.
1. Trong ImageReady, chọn File > Open, mở bất kỳ tập tin nào trong thư mục đích
Lessons/Lessons16.
2. Thử nghiệm với các dạng tập tin khác nhau và các thiết lập khác trong bảng
Optimize như bạn muốn cho đến khi bạn hài lòng với kết quả. (Chúng tôi sử dụng
định dạng , JPEG, High cho chất lượng và tuỳ chọn Progressive.)
3. Kéo biểu tượng Droplet
ra
khỏi bảng Optimize và đặt bất cứ nơi nào trên Desktop. (Nếu bạn đang sử dụng
Window, có thể bạn phải lấy lại kích thước cửa sổ ImageReady để thấy được
desktop.)

4. Đóng tập tin lại (không lưu)
5. Từ Desktop kéo thư mục đích từ thư mục Lesson16 trong thư mục Lessons và thả
nó vào droplet để xử lý hàng loạt các ảnh đồ hoạ trong thư mục.
ImageReady tối ưu hoá mỗi ảnh và thêm ảnh Web vào thư mục đích.
6. Trong ImageReady, mở bất kỳ hoặc tất cả các tập tin có định dạng JPEG trong
thư mục đích.
Chú ý là tất cả đều được tối ưu hoá theo các thiết lập đã xác định khi droplet
được tạo ra.
7. Thoát ImageReady. Bây giờ bạn đã kết thúc chương trình và bài học này.
Các câu hỏi ôn tập
1. Đối với việc tối ưu hoá hình ảnh, đâu là những ưu điểm của việc sử dụng
ImageReady so với Photoshop?
2. Color Table là gì?
3. Khi nào thì hoà sắc trình duyệt xảy ra và làm thế nào bạn có thể giảm thiểu
số hoà sắc trình duyệt trong 1 ảnh?
4. Mục đích của việc gán matte color cho ảnh GIF là gì?
Các câu trả lời ôn tập
1. Thật sự có nhiều lợi điểm khi sử dụng một trình ứng dụng này đối với trình
ứng dụng khác trong việc tối ưu hoá.Cả Photoshop lẫn ImageReady đều có thể thực
hiện được một phạm vi rộng rãi những thao tác nhằm tối ưu hoá ảnh. ImageReady có
nhiều đặc điểm chuyên Web mà bạn sẽ không tìm thấy trong Photoshop, nhưng tối ưu
hoá hình ảnh không phải là một trong những đặc điểm này.
2. Color Table là một bảng chứa các màu sử dụng ảnh 8 bit. Bạn có thể chọn 1
color table cho ảnh GIF và PNG-8, thêm, bớt và chỉnh sửa màu trong Color table.
3. Hoà sắc trình duyệt xảy ra khi một trình duyệt Web nhái những màu xuất hiện
trong bảng màu của ảnh nhưng không xuất hiện trong hệ thống hiển thị của trình
duyệt.
Để bảo vệ một màu khỏi hoà sắc trình duyệt, bạn có thể chọn màu trong bảng Color
Table rồi bấm chọn nút Web-shift ở cuối bảng để dịch chuyển màu sang màu
tương đương gần nhất của nó trong bảng Web.
4. Qua việc xác định một lưới màu (matte color), bạn có thể pha trộn phần nào
các điểm ảnh trong suốt trong 1 ảnh với màu nền trong trang Web của bạn. Với
lưới (matting), bạn có thể tạo những ảnh GIF với rìa mềm mại không có răng cưa
hoà sắc nhẹ nhàng vào màu nền của trang Web. Bạn cũng có thể xác định độ hoà sắc
thành trong suốt.