![]() |
||
|
|
Chương 8 |
|
|
Nội dung của trang này thuộc bản quyền của © Bá tước Monte Cristo - Final Fantasy và www.vietphotoshop.com. Những bài viết trong này có thể được in ra để dùng với mục đích cá nhân và phi thương mại. Nếu bạn muốn phát hành lại trong trang web của bạn làm ơn liên lạc với tôi hoặc ít nhất phải trích dẫn lại nguồn là: Bá tước Monte Cristo - Final Fantasy và www.vietphotoshop.com
1.
Khái quát về Paint Bucket và lệnh Fill: Painting trong PTS là làm những thao tác như chọn công cụ vẽ, chọn bút vẽ (brush), đặt tuỳ biến và vẽ. Vì chọn công cụ vẽ là bước đầu tiên, cho nên chúng ta sẽ xem xét sự khác biệt giữa các công cụ. Paint Bucket
Paint Bucket là một dạng đơn giản nhất của Painting tool. Nó dùng để to một vùng với một màu đặc hoặc Pattern. Paint Bucket làm việc gần giống như công cụ Magic Want bởi vì nó tô màu dựa trên những điểm tương đồng mà được xác định từ trước bởi tuỳ biến Tolerance khi bạn cài đặt trên thanh option bar. Trong PTS 6+, công cụ này cùng một chỗ với Gradient Tool và lệnh gõ tắt của nó là G. Shift-G thay đổi giữa Paint Bucket và Gradient. Bằng cách nháy đúp vào biểu tượng Paint Bucket trong hộp công cụ bạn sẽ thấy tuỳ biến của nó. (trong PTS 7 hầu hết các tuỳ biến của bất cứ công cụ nào đều được hiển thị trên thanh option bar, do vậy nếu bạn đang dùng PTS 6, 7 bạn không cần nháy đúp mà chỉ cần nhìn vào thanh Option Bar). Trong Paint Bucket cũng có 2 tuỳ biến Blending Mode và Opacity, như trong Layer Palette. Điều này cho phép bạn thay đổi mức độ hoà trộn với từng đơn vị pixel trên cùng một layer. Cái này có đôi chút khác biệt với chế độ Blend mode của Layer Palette bởi vì Blend Mode trong Layer Palette thay đổi mức hoà trộn của từng đơn vị pixel với tất cả các layer nằm dưới nó, và Paint Blend Mode thay đổi mức hoà trộn giữa các đơn vị pixel trên cùng một layer. Chúng ta sẽ xem xét thêm về blend mode khi chúng ta làm các bài thực hành. Tôi muốn chỉ cho bạn thấy có thêm 2 chế độ Blend Mode nữa mà chỉ có ở một số Paiting Tool: Behind và Clear.
Cài đặt tuỳ biến Tolerance của Paint Bucket cũng giống như của công cụ Magic Wand và cho phép bạn kiểm soát sự tương đồng của màu mà bạn muốn thay thế khi bạn nhấp chuột bằng Paint Bucket. Anti-Alias làm mềm đường viền của vùng được tô màu. Contents menu (PTS 5) hoặc Source menu (PTS6+) cho phép bạn chọn giữa màu nền trước và Pattern Fill. Trong PTS 6, khi bạn chọn một Pattern nó sẽ hiển thị như là một menu trên thanh Option Bar. Đánh dấu vào hộp kiểm Use All Layer cho phép bạn tô vào tất cả các layer. Tuỳ biến Contiguous kiểm soát liệu vùng tô màu chỉ được áp dụng cho những vùng gần kê hay không. Khi bỏ dấu kiểm, vùng tô sẽ được áp dụng cho tất cả các khu vực của file ảnh có cùng mức độ với Tolerance mà bạn đặt từ trước. Khi có dấu kiểm, nó chỉ tô những pixel gần kề mà hợp với chế độ tolerance đã được cài đặt.
Lệnh Fill
Gradient Tool
Công cụ Gradient cho phép bạn hoà trộn một màu này với một màu khác. Gradient bị giới hạn bởi 2 màu, bạn có thể tạo ra Gradient riêng của mình bằng cách sử dụng kết hợp vài màu với sự đa dạng về độ trong suốt. Lệnh gõ tắt cho Gradient là G. Tất cả có 5 loại gradient: Linear, Radial, Angle, Reflected và Diamond. There are five types of gradients: Linear, Radial, Angle, Reflected, and Diamond.
Hộp kiểm Transparency tạo cho Gradient khi tô là trong suốt. nếu không vùng trong suốt sẽ được tô với màu gần kề với nó. Dither thêm một chút "cát bụi" để giảm thiểu các bước sóng khi được in ra. Flip đổi ngược lại trật tự màu của gradient. Các kiểu Gradient có thể được chọn từ menu hoặc trên Option bar. Trong PTS 6 bạn nhấp chuột vào biểu tượng xem trước Gradient trên option bar sẽ mở ra hộp thoại Gradient Editor. Pattern Fills Như đã nói từ trước, Pattern có thể được sử dụng
như là lệnh fill bằng Paint Bucket và Edit > Fill. Bạn có thể vẽ Pattern
bằng cách sử dụng công cụ Pattern Stamp
Line Tool
Brush Palette được gắn vào Option bar như menu thả
xuống. PTS có rất nhiều Brush tiêu chuẩn về kiểu dáng, độ nét và độ lớn của Brush. Bạn cũng có thể tạo Brush riêng cho bạn. Bạn có thể reset, lưu và load brush thông qua Brush Palette menu.
Chúng ta sẽ thực hành với những Brush tự tạo ở phần sau của chương này. Bây giờ tôi sẽ giới thiệu cho bạn một số tính năng cơ bản của Brush Palette. Tất nhiên bạn có thể chọn một Brush bằng cách nhấn vào biểu tượng của nó trên Palette. Khi bạn đang vẽ, nó có thể sẽ rất lộn xộn nếu phải vào Brush Palette để điều chỉnh độ lơn hoặc hình dáng của Brush, cho nên có một vài lệnh gõ tắt mà bạn nên biết.
Bạn có thể khám phá tuỳ biến của Brush. Bạn có thể quay lại chế độ mặc định của Brush bất cứ lúc nào bằng cách chọn nút Reset brush từ brush Palette menu Fading Brush Strokes, Fills, và Filters
4. Pencil, Paintbrush và Airbush: Pencil Tool
Chú ý đên Brush Palette khi công cụ Pencil được kích hoạt. Tất cả những Brush sẽ là hình sắc cạnh. Chỉ có khoảng cách của Brush có thể được thay khi công cụ Pencil Tool kích hoạt. Công cụ Pencil có một lựa chọs là Auto-Erase, nó cho phép bạn vẽ bằng màu của nền trước hoặc nền sau và ngược lại. Khi Auto-Erase được chọn thì khi bạn bắt đầu vẽ sẽ là màu của nền trước, nếu bạn chuyển lại vị trí của nền trước ra nền sau, nó sẽ vẽ với màu của nền sau. Paintbrush Tool
Menu hiện ra này được gọi là Brush Dynamic Menu và có thể được sử dụng cho bất cứ công cụ nào yêu cầu vùng lựa chọn bằng Brush. Bạn có thể làm nhạt kích thước và màu của Brush Stroke. Phần còn lại bạn có thể tự tìm hiểu, bởi vì nó rất dễ hiểu và trực quan. Airbrush Tool
Một vài mẹo nhỏ khi Painting: Bạn có thể điều chỉnh Pressure của công cụ Airbrush hoặc Opacity của những công cụ khác bằng cách nhấn những giá trị số trên bàn phím mà không phải vào Option. Khi công cụ Painting được chọn bạn có thể di chuyển trong menu Blend Mode bằng cách sử dụng Shift+- (dấu trừ) và Shift++ (dấu cộng). Những lệnh gõ tắt này cũng có thể dùng để di chuyển trong layer blend mode khi không công cụ vẽ nào được chọn. Tôi không biết bạn có tài nhớ hay không? nhưng tôi thì chẳng bao giờ nhớ được Blend Mode tôi cần, cho nên những lệnh gõ tắt này rất tiện lợi vị nó cho tôi di chuyển trong menu Blend Mode. Từ PTS phiên bản 5.5 trở lên, có thêm hai loại
Eraser Tool nữa là: Background Eraser và Magic Eraser.
Lệnh gõ tắt của công cụ Eraser là E. Công cụ Eraser tiêu chuẩn có 4 chế độ Painting để chọn: Paintbrush, Airbrush, pencil và Block. Nó làm việc với nguyên lý ngược lại với công cụ vẽ, trừ công cụ Block Tool, mà có thể bạn đã đoán ra, là một hình vuông đơn giản. Điều khác biệt là, thay vì vẽ màu của nền trước vào tài liệu, công cụ Eraser tool vẽ những đường trong suốt... Trừ phi layer của bạn là Background, trong trường hợp này, Eraser tool sẽ vẽ với màu của nền sau. Tuỳ biến của Eraser Tool về cơ bản giống như công cụ Painting tool, chỉ có một tính năng thêm nữa là: Erase to history. Khi bạn dùng Erase to History, nó làm việc giống như công cụ History Brush. Thay vì vẽ với màu của nền sau hay trong suốt, bạn vẽ với trạng thái hiện hành trong History Palette. Bạn có thể tạm thời chuyển qua chế độ Erase to History bằng cách nhấn Alt khi công cụ Eraser đang được chọn.
The Magic Eraser Công cụ này là sự lựa chọn tốt nhất khi bạn có một background là một màu duy nhất hoặc gần như giống nhau. Chỉ bằng một cú nhấp với công cụ Magic Eraser và Background của bạn sẽ biến mất! Opps! Nhưng nói chung, bạn nên thực hành một chút với việc cài đặt mức Tolerance cho đến khi bạn thành thục với nó. Background Eraser Để sử dụng công cụ Eraser bạn đặt con trỏ qua vùng màu mà bạn muốn tẩy, giữ im hoặc click chuột để xoá đi backgroun, hoặc từ từ kéo dọc theo đường biên của vật mà bạn muốn cô lập. Điều quan trọng nhất mà bạn nên nhớ với công cụ Eraser là bạn phải rất cẩn thận giữ tiêu cự của Eraser Tool ra khỏi hình mà bạn muốn giữ. Khi sử dụng công cụ này, bạn có thể nhận ra rằng một vài chỗ hình trong nền trước trở nên trong suốt dọc theo đường biên. Bạn không cần phải quá quan tâm đến nó, vì bạn lúc nào cũng có thể vẽ lại nó bằng công cụ Erase to History hoặc History Brush. Background Eraser là một công cụ tuyệt vời để nhanh chóng tách hình ra khỏi nền, nhưng nó cũng để những pixel mờ mờ trên Background. Bạn sẽ cần phải tạo một nền background trắng sau vật mà mình muốn tách và dùng một vài cách để dọn dẹp trước khi sử dụng công cụ này. Bây giờ bạn đã sẵn sàng cho các bài thực hành chưa? Trong chương tới bạn sẽ thực hành với 5 bài tập, mỗi bài củng cố cho một công cụ kết hợp với rất nhiều điểm mà chúng ta đã học. Trước khi bạn bắt đầu, hãy download và giải nén file này, nó chứa tất cả các file cần thiết để thực hành. 6. Thực hành với các công cụ đã học: Bài 1. Mở file lession1e7.psd. Chungsta sẽ tô màu cho nó và áp dụng một vài layer Effect để được một hình như hình dưới.
Việc đầu tiên chúng ta làm là đổi layer Background thành layer (nhấp đúp vào nó) đặt tên cho nó là lines, do vậy chúng ta có thể giữ những đường thẳng riêng biệt khỏi màu được tô. Đặt chế độ Blend Mode là Multiply, mục đích của việc này là cho phép những layer ở dưới có thể được nhìn qua vùng trắng của layer Lines. Bằng cách sử dụng Multiply Blend Mode, chúng ta không cần phải lo lắng về việc không may xoá mất vùng trắng. Thêm một layer mới và kéo nó xuống dưới layer Lines. Đặt tên nó là Sea Chọn Paint Bucket và đặt tuỳ chọn là "Use all Layers". Nó sẽ cho phép bạn lấy mẫu từ Lines Layer, nhưng vẽ lên trên Sea Layer. Bạn phải đánh dấu vào hộp kiểm Contiguous và Sea layer là layer được kích hoạt để vẽ. Hiển thị Swatches Palette và bắt đầu tô vùng nền của hình con cá heo với nhiều màu xanh và xanh lá cây. Hãy nhớ bạn có thể nhấn phím Alt để lấy màu từ file ảnh. Khi bạn tô màu xong cho layer Sea, tạo thêm một layer mới, đặt tên nó là Dolphins và kéo nó xuống dưới layer Lines. Tô màu cho con cá heo với một số gam màu xám khác nhau. Bạn có thể Zoom vào để tô cho những chi tiết nhỏ. Khi bạn đã hoàn thành việc tô, đổi sang Pencil Tool và sử dụng luân phiên Pencil Tool và Eyedropper để tô lại những chi tiết nào còn thiếu. Bây giờ chúng ta tạo cho bức tranh thêm chút hiệu ứng 3D bằng cách áp dụng layer style. Tôi sử dụng những giá trị Inner Bevel khác nhau cho mỗi layer. Cứ thực hành với Layer Style cho đến khi bạn có được điều bạn muốn. Bây giờ chúng ta thêm kết cấu nước cho Sea Layer Dùng Pattern Overlay trong layer Style và đặt pattern là "Satin" sau đó đổi Blend Mode thành Soft Light. Bạn có thể giảm mức Opacity xuống và chỉnh lại tỉ lệ của Pattern cho nó nhỏ hơn. Nếu bạn vướng mắc ở chỗ nào, bạn có thể mở file Zip ra và xem cách tôi làm. Bài 2.
1. Mở một file ảnh như trên. Nếu chẳng may bạn vẽ màu ra ngoài những chỗ mà bạn không muốn. Đổi sang công cụ Paintbrush Tool, đổi màu vẽ sang bất cứ màu xám nào và đổi chế độ Paint thành Saturation. Khi bạn vẽ với màu xám trong chế độ Saturation, nó sẽ Desaturate file ảnh của bạn. Nếu bạn sử dụng layer chắc chắn sẽ giúp bạn thao
tác dễ hơn nhiều, nhưng đó là cái hay của PTS vì bạn có thể có rất nhiều
lựa chọn để thao tác, và mỗi cái có một ưu khuyết điểm khác nhau. Bạn đã học cách xoá màu từ một bức hình màu và tô màu lại vào một vùng lựa chọn, bây giờ hãy làm lại điều ngược lại. Tôi chọn một hình đơn giản để thực tập, nhưng nếu bạn muốn chọn hình khác thì bạn nên nhớ Color Mode phải được chuyển thành RGB trước khi bắt đầu. Image > Mode > RGB
1. Chọn Paintbrush Tool. Đặt chế độ màu và Opacity
xuống khá thấp khoảng 20-40%. Khi bạn sử dụng mức Opacity thấp, nhớ rằng nét vẽ sẽ được thiết lập bất cứ khi nào bạn nhấc chuột và bắt đầu một nét vẽ mới. Sẽ tốt hơn nếu bạn bắt đầu tô bằng một màu nhạt mà không nhấc chuột lên, và tô tiếp những mầu đậm hơn nếu cần. Thực hành với những màu và độ Opacity khác nhau để hoà trộn màu sắc. Đừng lo lắng khi bạn vẽ ra ngoài đường biên, vì bạn có thể sử dụng Erase to History để vẽ lại màu đó. Bài 4 Công cụ Airbrush rất thường được sử dụng để thêm hiệu ứng 3D để làm nổi hình và đổ bóng. Thực hành sử dụng Airbrush với màu đen và trắng để thêm chiều sâu cho hình trái tim. Mục đích của bạn là tạo ra một hình tương tự như ví dụ ở dưới. Bạn có thể sử dụng Layer Style để có hiệu ứng Drop Shadow, nhưng tôi chỉ muốn bạn sử dụng công cụ Airbrush để tạo bóng cho hình.
Mở file lessson7e6.psd ra để bạn thực tập, tôi sẽ không chỉ từng bước một nữa. Bạn thử nhé! nhưng tôi cho bạn một số mẹo để bạn làm dễ hơn.
Bài 5
Để tạo ra hình "nhấp nháy" như trong hình, chúng ta cần căn chỉnh tất cả Brush chính xác vào tâm. Để làm được điều này chúng ta cần con trỏ phải hết sức chính xác. Nên bạn hãy nhấn phím Capslock để Brush biến thành tiêu cự, tạo cho việc vẽ dễ dàng hơn nhiều. Khi bạn nhấn phím Capslock, Brush sẽ biến thành một tiêu cự rất nhỏ. Sử dụng mỗi Brush mà bạn vừa tạo một lần, hãy nhìn hình minh hoạ và vẽ. Bây giơ chúng ta đã có hình "nhấp nháy", nếu bạn muốn chúng ta sẽ lưu nó lại thành một brush tên là "nhấp nháy". Muốn lưu nó lại bạn hãy tạo một vùng lựa chọn bao quanh nó. Rồi vào Edit > Define Brush. Brush mới sẽ được thêm vào menu, bây giờ bạn chỉ cần chọn nó sẽ có một hình "nhấp nháy" tuyệt đẹp. Nhân đôi tài liệu của bạn và điều chỉnh lại tỉ lệ của Brush với những kích cỡ khác nhau, bạn có thể Define từng kích cỡ khác nhau của từng brush. Bạn hãy dùng brush tròn mặc định của PTS với mức Opacity là 80% và click một lần vào giữa của hình "nhấp nháy" vừa tạo. Define nó thành một brush mới và lập lại với nhiều kíck thước khác nhau. Bạn có thể thử nghiệm với nhiều loại brush với những tuỳ biến size, harrdness, angle và roundness để tạo ra những brush khác nhau. Cuối cùng, nếu bạn thích những hình đó bạn có thể dùng nó để tạo những Texture riêng cho mình. Bạn cũng đừng lo lắng khi tôi nói bạn lưu hết brush này đến brush khác. Vì nếu bạn muốn xoá hết nó, thì bạn chỉ việc chọn Preset brush là xong.
© Bá tước Monte Cristo - www.vietphotoshop.com |
|
|
© Copyright 2004-2005 vietphotoshop.com, All rights reserved. Ghi rõ nguồn khi bạn phát hành lại thông tin từ trang này. |
||