1.
Khái quát về công cụ Type
|
Mẹo về Font:
Nếu bạn down được một
Font chữ
nào đó mà bạn chỉ muốn dùng ở PTS thay vì phải gắn nó vào Font Folder
trong hệ điều hành bạn có thể install Font đó vào Adobe . Trong Window
system, Abode font fold được đặt ở: Program
Files\common\Files\Adobe\Fonts. Những Font chữ được install vào
phần này sẽ có thể được hiển thị trong hầu hết những phiên bản gần đây,
nhưng không thể hiển thị ở những ứng dụng khác. Sẽ rất thuận tiện nếu
bạn tạo ra nhiều font hơn trong ứng dụng của bạn mà không phải load
font đó vào hệ điều hành. |
Lệnh gõ tawt cho công cụ Type Tool là T. Trong PTS
6, hầu hết tuỳ biến của các công cụ đều hiển thị trên thanh Option Bar mỗi
khi một công cụ nào đó được lựa chọn. Bạn sẽ nhận ra có 4 nút trên Option
Bar.
Hai
nút đầu tiên trong nhóm dùng để tạo một Type Layer mới, hoặc tạo một Type
Mask. Hai nút còn lại trong nhóm thứ hai dùng để chọn để viết Text theo
chiều ngang hoặc theo hàng dọc.
Để tạo ra một Type layer thông thường, bạn phải
chọn công cụ Type Tool và để ý xem nút Type Tool có được ấn lõm xuống
không? sau đó thì nháy chuột vào tài liệu và viết. Bạn có thể nhấp và kéo
một hình vuông bằng công cụ Type Tool để tạo ra một cột Text. Điều này hữu
dụng khi bạn muốn tạo một khổ chữ lớn. Trước khi bạn nhấp chuột vào tài
liệu, nhìn vào biểu tượng con trỏ hình chữ I xuất hiện khi bạn di chuyển
con trỏ vào trong vùng tài liệu.
Chú ý một đường kẻ ngang giao nhau với biểu tượng I. Đường thẳng này chỉ
ra vạch ranh giới của vùng chữ. Nó hữu dụng khi bạn cần căn chỉnh đường
ranh giới của vùng chữ với một hình khác ở trong tài liệu cùa bạn. Tốt hơn
hết là thực tập để biết rõ hơn. Bây giờ bạn hãy gõ một vài chữ bất kỳ và
chúng ta sẽ xem xét tuỳ biến của Type Tool. Bạn có thể thiết lập tuỳ biến
Type Tool thông qua Option Bar trước khi bạn gõ chữ, hoặc bạn có thể sử
dụng Option Bar để chỉnh sửa chữ khi bạn đang trong Type Tool mode. Bạn có
thể thay đổi định dạng của từng chữ hoặc từng từ bằng cách bôi đen nó và
thay đổi theo ý bạn.
Hai
hình dưới đây trong Option Bar, chắc tôi không cần phải giải thích cho các
bạn chứ? bạn có thể tự tìm hiểu những tuỳ biến của nó. Rất dễ vì nó tương
tự trong Word hoặc rất hình tượng.


Chỉ có nút cuối cùng là Character Palette. Chúng ta
sẽ bàn đến Warp Text và Type Tool Palette sau.
Khi bạn đang trong chế độ Type Mode, bạn có thể giữ
phím Ctrl và con trỏ sẽ biến thành Move Tool, nó cho phép bạn định vị lại
dòng chữ mà không cần phải thoát khỏi Type Tool. Bạn cũng dễ thấy rằng khi
bạn nhấn phím Enter se cho phép bạn chuyển xuống dòng mới.
Bạn có thể nhận vùng Type và thoát khỏi vùng Type
bằng một trong 3 cách sau:
-
Nhấn phím Enter trong vùng phím số (Máy desktop)
-
Chọn một công cụ khác trong Tool Box
-
Chọn dấu Tick trong Option Bar
Để thoát khỏi Type Mode mà không thêm chữ bạn có
thể nhấn phím Esc hoặc nhấn vào dấu "X" trên thanh Option Bar.
Một khi bạn đã gõ vài chữ vào tài liệu của bạn, bạn
sẽ thấy một layer chứa chữ. Tất cả những Type Layer đều có chữ T ở trong
hình nhỏ của Layer Palette. Nháy đúp vào chữ biểu tượng chữ T sẽ đưa bạn
trở lại chế độ chỉnh sửa, và nó sẽ tự động lựa chọn để bạn thay đổi. Nếu
bạn lựa chọn công cụ Type Tool và nhấp vào bất cứ chữ nào trong tài liệu,
nó sẽ tự động kích hoạt tài liệu của bạn và tự lựa chọn chế độ Type Mode.

Type Layer có thể được di chuyển bằng công cụ Move
Tool và thao tác với Free Transform mode. Không giống như những layer
thông thường, khi bạn Transform Type Layer, dòng chữ vẫn duy trì Crisp và
Sharp. Khi định dạng lại tỉ lện trong Free Transform mode, nhơ giữ phím
Shift xuống rồi kéo ở góc để giữ tỉ lệ của vùng chữ được cân đối. Tất
nhiên, bạn cũng có thể tạo cho Text của bạn cao hơn, rộng hơn bằng cách sử
dụng Free Transform để làm "méo" nó.
Khi Type Layer được kích hoạt, bạn sẽ nhận thấy có
thêm một vài tuỳ biến ở menu phụ của Type layer. xem hình.
Trong
PTS 6+ khi bạn muốn vẽ trên chữ hoặc áp dụng Filter cho nó, chữ trước hết
phải được chuyển thành Pixel. Thao tác này được gọi là Rasterizing hoặc
Rendering chữ. Để Rasterize bạn phải nháy chuột phải vào tên của Type
layer trong Layer Palette và chọn Rasterize Layer từ menu hiện ra. Bạn
cũng có thể Rasterize Type bằng cách chọn Layer > Rasterize > Type. Khi
bạn Raterize Type trong PTS, bạn sẽ không được chỉnh sửa chữ và tuỳ biến
định dạng nữa. Cho nên trước khi bạn rendering một Type Layer bạn nên nhân
đôi layer đó trước và ẩn layer chưa render đi. Như vậy khi bạn muốn thay
đổi gì ở layer type, bạn không phải quay lại từ đầu.
Sau đây là một bài thực hành để giải thích sự khác
biệt giữa Type layer và Render Type:
-
Tạo một tài liệu mói 400x400 pixel và gõ chữ
"Hello" khoảng 72 points
-
Nhân đôi layer lên hai lần và bạn sẽ có 3 bản
copy của chữ Hello và di chuyển nó ra một chút để bạn có thể nhìn thấy
từng copy.
-
Render một trong các layer vừa được copy.
-
Free Transform Layer vừa được render và điều
chỉnh tỉ lệ để vừa với độ rộng của tài liệu
-
Free Transform những layer không được render
bằng với layer ở bước 4. Chú ý độ nét của những layer được render.
-
-
Bây giờ Zoom vào Type Layer và nhìn kỹ vào chỗ
cong của chữ. Bạn sẽ nhìn thấy đường viền của nó bao gồm một số màu? đây
chính là lý do tại sao ta có tuỳ chọn anti-alias smoothing.
Khi bạn sử dụng Type Mask Tool thay vì Type Layer
tool, tuỳ chọn vẫn như nhau, nhưng khi bạn nhấp vào tài liệu, tài liệu sẽ
được Fill với một mạng che, tương tự như khi bạn ở trong chế độ Quick
Mask. Khi bạn gõ, chữ sẽ vẫn hiện ra bình thường trên mạng che. Khi bạn
thiết lập vùng chữ, bạn sẽ thấy một vùng lựa chọn thay vì một layer chữ
bình thường. Một khi bạn đã tạo một vùng lựa chọn chữ, nó có tính năng như
những vùng lựa chọn bình thường khác.
Khi bạn chọn gõ chữ theo chiều dọc, chữ sẽ được đặt
theo chiều từ trên xuống dưới. Những nút căn chỉnh cũng sẽ biến đổi theo
chiều dọc. Nếu bạn muốn tạo một hàng chữ dọc hai bên cạnh của một file ảnh
bất kỳ, mà không phải là theo chiều dọc, bạn chỉ cần gõ bình thường theo
chiều ngang và dụng Free Transform để xoay nó. Hoặc bạn bôi đen dòng chữ
vào Character và Paragraph Palette, chọn mũi tên nhỏ ở menu hiện ra và
chọn Rotate Character.
2. Thực hành với Type Tool
Tự làm hiệu ứng drop Shadow.
-
Mở một tài liệu mới và gõ vài chữ khoảng 72 points
-
Nhân đôi layer
-
Đổi màu của layer dưới cùng thành màu đen.
-
Di chuyển layer chữ màu đen sang bên phải vài pixel
-
Render (Rasterize) layer này.
-
Đặt tên cho layer này là "Shadow"
-
Vào Filter > Blur > Gaussian với radius
khoảng 2-5 pixel phụ thuộc
vào cỡ chữ của bạn
-
Điều chỉnh mức Opacity của Shadow layer như bạn thích
-
Nếu phần bóng được đặt trên một nền nhiều màu,
thiết lập Blend mode
thành Multiple để có kết quả đẹp hơn.
Chú ý: bạn có thể nói rằng tại sao phải mất
thời gian thế? khi bạn chỉ cần vào Filter hoặc Layer Style, nhoáy một cái là xong.
Nhưng biết
thêm một cách chẳng thiệt gì phải không? và thực tập thêm về những gì bạn
đã học.
Outlined Type
-
Mở một tài liệu mới và gõ vài chữ khoảng 72 points,
đặt tên là
Outline
-
Giữ phím Ctrl và nhấp chuột vào layer Outline trong Layer Palette
để tạo vùng lựa chọn từ vùng chữ.
-
Tạo một layer mới dưới layer Outline
-
Cách 1: Dùng
stroke: black, 2 pixels, outside.
-
Cách 2: Select
> Modify > Expand > 2 pixels và tô với màu đen.
Bạn có thể dùng Layer Style để thao tác nhanh hơn.
Nhưng tôi chỉ nói để bạn biết! :D
3D Text

-
Mở một tài liệu mới và gõ vài chữ khoảng 72 points,
đặt tên là 3D
-
Nhân đôi layer 3D hai lần. Bạn phải có 3 layer riêng
biệt.
-
Di chuyển layer dưới cùng 2 pixel lên phía trên bên trái và
đổi màu
layer 3D thành trắng.
-
Di chuyển layer giữa 2 pixel xuống dưới và lệch sang
phải và đổi
thành màu đen.
-
Fill Background layer cùng màu với layer trên cùng.
-
Nếu bạn muốn bóng được mềm mại hơn, Merge 3 layer
với nhau và áp dụng 1-2 pixel Gaussian Blur.
-
Move the middle
layer two pixels down and two pixels right and change the type color to
black.
Sử dụng Bevel &
Emboss layer style/effect.
Perspective
Shadow - Chữ đổ bóng
-
Mở một tài liệu mới và gõ vài chữ khoảng 72 points,
đặt tên là
Shadow
-
Nhân đôi layer Shadow, đặt tên cho nó là Shadow 1
-
Giữ phím Ctlr-T để bật Free Transform mode.
-
Giữ phím Ctrl và đặt ở góc phải của vùng bao quanh và kéo sang bên
phải để bóp méo nó.
-
Rasterize Shadow layer và lock layer Transparency.
-
Chọn Gradient Tool và chọn Black to White.
-
Nhấp chuột vào chân của chữ Shadow và kéo nó đến
điểm cao nhất của
layer Shadow 1
-
Chọn layer Shadow 1 và chuyển sang công cụ Move Tool
để di chuyển nó
lên 1 pixel.
Motion Text
-
Mở một tài liệu mới và gõ vài chữ khoảng 72 points,
đặt tên là
Motion
-
Nhân đôi layer
Motion
-
Resterize layer
cuối
-
Filter > Stylize
> Wind: Method-Wind, From the Left
-
Di chuyển layer Wind sang trái một vài pixel
-
Filter > Blur >
Motion Blur: Angle-0, Distance 10-15 pixels.
-
Điều chỉnh vị trí của layer được Blur nếu cần
-
Giảm mức Opacity của layer được Blur xuống
khoảng 60-80%
Glow Text
-
Mở một tài liệu mới và gõ vài chữ khoảng 72 points,
đặt tên là Glow.
-
Đổi màu chữ thành màu đen
-
Nhân đôi layer Glow, đặt tên là Glow 2
-
Đổi màu layer Glow 2 thành một màu sáng
-
Rasterize layer Glow 2
-
Filter > Blur > Gaussian với radius khoang 6 pixel.
-
Tô layer Background bằng màu đen.
Layer Style: Dùng
the Outer Glow layer style/effect.
Inner Glow and
Cut-Out Text
-
Tạo một tài liệu mới với màu nền là trắng.
-
Nhân đôi Background Layer. Đặt tên cho layer vừa nhân
đôi là
Cutout
-
Chọn công cụ Type Mask Tool và gõ chữ "Cutout". Trong PTS 6
bạn chọn
Type Tool và chọn Type Mask trên thanh Option bar, PTS 7 bạn giữ chuột ở công
cụ Type Tool, sau đó chọn Type Mask Tool trong menu hiện ra. Chú ý rằng
với Type
Mask tool, nó không tạo ra một layer mới, nó chỉ tạo ra một vùng lựa
chọn trên layer hiện tại
-
Thoát ra khỏi công cụ Type Mask Tool, trên tài
liệu sẽ hiển thị một
vùng lựa chọn "Cutout".
-
Nhấn phím Delete
-
Nhân đôi layer Cutout
-
Bỏ chọn Ctrl-D
-
Chọn "Cutout" layer, Lock Transparency và tô
với màu đen.
-
Mở lock Transparency
-
Filter > Blur > Gaussian Blur khoảng 4 Pixel.
-
Bạn sẽ có hiệu ứng Inner Glow
-
Mở khoá di chuyển cho Cutout layer và Cutout Layer Copy
-
Di chuyển layer Cutout xuống dưới và lệch về bên
phải 2 pixel
-
Đổi màu background layer thành Xanh hoặc bất cứ màu nào
bạn thích.
Dùng layer styles
trong PTS 6+, đổi màu chữ thành trăng và dùng Inner Shadow.
See-through Text
- Chư trong suốt.
-
Mở một file ảnh hoặc một Texture, gõ chữ See Thru và
đặt tên layer
là Seethru
-
Chọn màu chữ là 50% xám
(R120, G120, B120)
-
Dùng Bevel &
Emboss layer style/ effect. Tuỳ biến theo ý bạn
-
Đặt chế độ Blend
Mode cho layer Seethru là Hard Light.
Double Emboss
-
Mở một tài liệu và tô màu nên với bất cứ màu nào
bạn muốn.
-
Gõ chữ "Hello" cùng màu với Background,
đặt tên cho layer là Hello
-
Sử dụng Bevel & Emboss layer style với Pillow Emboss.
-
Giữ phím Ctrl và nhấp chuột vào chữ T trong layer Hello
để chọn chữ
Hello là vùng lựa chọn
-
Chọn Select > Modify > Expand > 5 Pixel
-
Tạo một layer mới dưới layer Hello
-
Tô vùng lựa chọn cùng màu với màu bạn đã dùng.
-
Bỏ chọn
-
Trong Layer Palette, kéo Layer Effect từ layer Hello và
thả nó vào
layer mới mà bạn tạo trong bước 6. Hoặc nháy chuột phải vào layer Hello,
chọn "copy layer Style". Sau dó nháy chuột phải vào layer ở
bước 6 và chọn "paste layer style".
© Bá tước Monte Cristo -
www.vietphotoshop.com