1. Công cụ Marquee Selection
Trong phần này chúng ta sẽ khám phá tất cả những công cụ Selection
trong PTS cộng với Mask, kênh Alpha (Alpha Channels), và biến đổi vùng lựa
chọn (Transformation of Selection). Những công cụ lựa chọn bao gồm
Marquee Tool, Lasso Tool và Magic Wand. Tuy nhiên, chúng ta sẽ bàn tới rất
nhiều cách để tạo hoặc "tỉa tót" vùng lựa chọn sử dụng Quick Mask Mode,
Alpha Channel và lệnh Transform Selection.
Sau đây là một số tổ
hợp phím bạn nên nhớ khi dùng kết hợp với công cụ lựa chọn. Để dễ hiểu hơn
bạn nên vừa đọc vừa làm. Vì diễn đạt bằng lời rất khó!
-
Giữ phím Shift và kéo Selection Marquee tạo cho
vùng lựa chọn một hình vuông hoặc tròn
-
Giữ phím Shift và kéo Selection Marquee khi một
vùng lựa chọn khác đang hiển thị sẽ "thêm" vào vùng lựa chọn
-
Giữ phím Alt và kéo Selection Marquee khi một
vùng lựa chọn khác đang hiển thị sẽ "bớt" đi ở vùng lựa chọn
-
Giữ phím Alt và kéo Selection Marquee vùng lựa
chọn của bạn sẽ mở rộng ra từ nơi mà bạn nháy chuột đầu tiên
-
Bạn có thể kết hợp 2 phím Shift và Alt để tạo
một sự lựa chọn kéo ra từ tâm và "thẳng".
-
Bạn có thể kết hợp 2 phím Shift và Alt khi một
vùng lựa chọn khác đang hiển thị sẽ tạo ra một vùng lựa chọn giao nhau (Vùng
mà ở đó hai vùng lựa chọn chồng lên nhau)
-
Để định vị lại vùng lựa chọn trong khi bạn đang
vẽ nó, giữ phím Spacebar. Miễn là phím Spacebar được giữ
bạn có thể di chuyển vùng lựa chọn, khi bạn thôi không giữ phím Spacebar
nữa, bạn có thể tiếp tục công việc chọn. Vùng lựa chọn sẽ không được
thiết lập cho đến khi bạn buông chuột.
-
Bạn có thể di chuyển vùng lựa chọn sau khi bạn
đã thiết lập nó bằng cách di chuyển con trỏ vào trong vùng lựa chọn miễn
là công cụ Marquee Tool đang được kích hoạt. Con trỏ của bạn sẽ trông
như thế này
sau đó bạn có thể
nhấp và kéo vùng lựa chọn đến vị trí mới. Bạn cũng có thể dùng mũi tên
trên bàn phím để di chuyển nó.
-
Ctrl-A Lựa chòn toàn bộ bức ảnh
-
Ctrl-D hủy bỏ vùng lựa chọn.
-
Shift-Ctrl-I
Xác nhận vùng lựa chọn.
-
Ctrl-H Giấu vùng lựa chọn nhưng vẫn xác
nhận nó.
|
Chú
ý
Version 6.0+ |
|
Trong
PTS 6+, bạn cũng có thể chọn add/ subtract/ intersect từ tổ hợp nút
trên Option Bar 6
.
Hơn nữa lệnh tắt Ctrl-H trong PTS 6 còn là lệnh gõ tắt của một số lệnh
khác, cho nên bạn phải gõ ít nhất 2 lần để vùng lựa chọn bị giấu đi. |
2. Lasso và Wand Tool Selection
Trong phần này chúng ta sẽ học cách sử dụng ba công cụ lasso tools. Lệnh
tắt cho công cụ Lasso Tool là L và Shift-L sẽ thay đổi giữa ba công cụ
Lasso Tool
Công cụ lasso Tool bình thường cho phép bạn tạo
vùng lựa chọn "bằng tay". Chỉ việc nhấp và kéo để vẽ vùng lựa
chọn. Khi bạn buông chuột vùng lựa chọn sẽ tự động đóng lại, tạo ra một
đường thẳng nối điểm đầu và điểm cuối với nhau. Lệnh tắt để "thêm" và "bớt" vùng
lựa chọn giống như Marquee Tool. Dưới đây là một số lệnh bổ sung cho Lasso
Tool.
-
Nếu bạn muốn vẽ một đường thẳng với Lasso Tool,
hãy giữ phím Alt và tạo một loạt những chấm đơn thay vì kéo.
-
Bạn có thể thay đổi giữa công cụ "vẽ tay" và "đường
thẳng" bằng cách giữ phím Alt trong khi bạn vẽ vùng lựa chọn. Cái này
hơi rắc rối một chút, bạn phải chắc rằng bạn nhấp hoặc thả phím Alt
trong khi bạn phải giữ chuột nếu không vùng lựa chọn sẽ đóng lại.
-
Bạn có thể giữ phím Delete để xoá đi nét vẽ gần
nhất.
Công cụ Polygonal Lasso được dùng để vẽ vùng lựa
chọn bằng đường thẳng. Bạn có thể dùng công cụ Polygonal Lasso như là công
cụ Lasso bình thường bằng cách giữ phím Alt để vẽ sự lựa chọn bằng công cụ Freehand.
Một sự khác biệt giữa công cụ Polygonal Lasso là bạn có thể dùng phím
Shift để tạo một đường thẳng 45 độ. Nếu bạn vẽ một đường thẳng bạn có thể
nhấn phím Delete bất cứ lúc nào để xoá đi nét vẽ cuối cùng. Muốn xoá đi
bao nhiêu nét vẽ, chỉ việc nhấn tưng đấy lần Delete.
Nếu bạn dùng công cụ Polygonal lasso tool để tạo một vùng lựa chọn "bằng
tay" bạn có thể giữ phím Delete để xoá đường thẳng đó từ từ. Cách này
cũng hơi phức tạp một chút, vì bạn đã nhấn phim Alt xuống rồi để vẽ "bằng tay".
Điều mà bạn phải làm là bỏ chọn phím Alt và giữ phím Deleete. Và bạn có
thể xoá bao nhiêu tuỳ thích, bạn có thể quay lại để giữ phím Alt để tiếp
tục việc lựa chọn bằng công cụ Freehand.
Công cụ Magnetic Lasso Tool có công dụng tương tự như công cụ Lasso
Tool khác, nhưng nó có một tính năng đặc biệt là có thể "men theo" vùng
tương phản và nó sẽ "dính" vào viền của mô hình mà bạn đang lựa
chọn.
Chính bởi vì tính năng đặc biệt này, cho nên Magnetic Lasso tool có nhiều
tuỳ biến hơn những công cụ Lasso khác. Những tính năng này bạn sẽ gặp ở
những bài tập tiếp theo.
Bạn có thể tạm thời đổi sang công cụ Lasso Tool thông thường khi đang sử
dụng công cụ Magnetic Lasso bằng cách giữ phím Alt và kéo. Hoặc bạn
có thể tạm thời đổi sang Polygonal Lasso Tool bằng cách nhấn phím Alt và
nhấp. Phím Delete cho phép bạn xoá các điểm. Sau đây là những lệnh
gõ tắt mà chưa được nói tới:
-
Bạn có thể điều chỉnh độ rộng của Lasso khi bạn
vẽ bằng cách sử dụng mũi tên trên bàn phím hoặc phím [ và ]
-
Bạn có thể điều chỉnh tần số khi bạn đang vẽ
bằng cách sử dụng dấu ; (chấm phẩy) hoặc dấu ' (dấu móc
lửng)
-
Bạn có thể điều chỉnh viền tương phản khi bạn vẽ
bằng cách sử dụng dấu , (dấu phẩy) và dấu . (dấu chấm)
Đóng vùng lựa chọn với công cụ Polygonal Lasso và
Magnetic Lasso có một chút khác biệt với công cụ Freehand Lasso tool. Với
công cụ này có 2 cách để đóng vùng lựa chọn
-
Nếu bạn di chuyển con trỏ trong vòng vài pixel ở
điểm khởi đầu, bạn sẽ thấy một vòng tròn nhỏ xuất hiện bên cạnh con trỏ
điều đó có nghĩa rằng khi bạn nhấp chuột một lần, vùng lựa chọn sẽ đóng.
-
Nếu bạn không ở gần điểm xuất phat và bạn muốn
đống vùng lựa chọn bạn phải nháy kép.
- Nếu bạn sử dụng Polygonal hoặc Magnetic Lasso Tool với phím Alt để tạo
vùng lựa chọn bằng tay, bạn phải nhả phím Alt ra trước và rồi sau đó
nháy kép để đóng vùng lựa chọn.
Cuối
cùng nhưng không kém phần "long trọng" là công cụ Magic Want Tool. Công
cụ
Magic Wand tạo vùng lựa chọn dựa trên điểm tương đồng về màu sắc. Lệnh gõ
tắt cho công cụ này là W.
Trên
thanh Option Bar hộp kiểm Tolerance kiểm soát phạm vi của màu được lựa
chọch và có phạm vi từ 0 đến 255. Để lựa chọn một phạm vi nhỏ của màu hãy
điền một số nhỏ vào ô và ngược lại.
Hộp kiểm Use all Layers cho phép bạn lựa chọn dựa
trên dữ liệu từ tất cả layer nhìn thấy (chúng ta sẽ học về layer trong
những bài sau)
Khi hộp kiểm Contiguous được chọn, vùng lựa chọn chỉ bao gồm những pixel
gần kề của phạm vi màu tương tự. Nếu bạn muốn chọn tất cả các vùng của màu
cùng một lúc bạn phải bỏ dấu kiểm ở Contiguous.
Cũng như các công cụ lựa chọn khác bạn có thể dùng
phím Shift để "thêm" vào vùng lựa chọn, Alt để "bớt".
3. Thực hành với Marquee Selection
Bây giờ bạn học được cũng kha khá rồi! hãy thực tập bằng cách tạo một
số hình cơ bản với công cụ Selection.
Bắt đầu bằng việc mở một New document (File > New) 400x400 Pixels,
nền trắng.
Với những bài thực hành này chúng ta sẽ tạo những
hình cơ bản bằng cách fill vùng lựa chọn.
Để fill = tô (chúng ta coi như là thế) vùng lựa chọn với màu nền
(background) bạn dùng tổ hợp phím Ctrl-Spacebar+Delete. Tô với nền trước
dùng Alt-Spacebar+Delete.
Cho hình đầu tiên
bạn vẽ một ô vuông, và "bớt" một vòng tròn ở giữa sau đó tô nó màu
đen.
Sử dụng
Polygonal Lasso để tạo một hình lục giác (đừng quên phím Shift giúp bạn
tạo một đường thẳng)
Sau đó xác
nhận vùng lựa chọn (Shift-Ctrl+I) và tô với màu trắng. Bởi vì chỉ là thực
tập, cho nên hình cũng chỉ tương đối thôi.
Bạn vào View menu và chọn chế độ hiển thị thước kẻ (Ruler) hoặc nhấn tổ
hợp phím Ctrl+R. Hiển thị chế độ ô kẻ
(grid) cũng từ View menu hoặc Ctrl -. Nháy
kép vào thước kẻ và đổi đơn vị thành Pixels. Chọn Next và cài đặt ô kẻ ở
mỗi 50 pixel với 5 Subdivisions. Xem hình minh hoạ

Sử dụng
Grid để giúp bạn vẽ một hình tam giác cân đối
Thêm một hình vuông để tạo ra hình
ngôi nhà, sau đó sử dụng tiếp công cụ Rectangular Tool để tạo ra cửa sổ và
cửa chính. Với Single Row Marquee bạn có thể thêm vào một dòng để hình
thành cạnh đáy cho ngôi nhà.
Bây giờ bạn hãy thử tạo ra một hình
bán nguyệt và một cái cây bên cạnh xem nào?
Sau đó sử
dụng Magic Wand kết hợp với những công cụ khác để thay đổi màu của ngôi
nhà.
4. Selection menu command -
Lệnh chọn
menu.
Chúng ta đã biết những lệnh gõ tắt sau:
Chọn tất cả = Ctrl - A
Bỏ chọn = Ctrl - D
Chọn lại = Shift-Ctrl-D
Xác nhận vùng chọn = Shift-Ctrl-I
Lệnh
Feather cho phép bạn làm dịu hoặc mờ (Soften hoặc Blur) cạnh của vùng lựa
chọn băng một giá trị pixel cụ thể. Bạn có thể tự thực hành với tấm hình
của bạn để tạo ra hiệu ứng như hình bên.

-
Tạo ra một vùng lựa chọn Oval
-
Giá trị Feather là 10-20 Pixels
-
Thiết lập vùng lựa chọn (Shift-Ctrl-I)
-
Tô nó với màu của background
Lệnh Feather thường được dung khi bạn chỉ muốn làm
mờ vùng lựa chọn một vài pixels, nhưng trong hầu hết trường hợp bạn cần
đến nhiều kỹ năng hơn. Chúng ta sẽ bàn đến những sự lựa chọn tốt hơn khi
học đến Quick Mask Mode.
Tiếp đến là lệnh Modify ở menu phụ nó bao gồm lệnh Border, Smoth, Expand
và Contract.
Border: Nếu bạn đã có một vùng lựa chọn từ
trước thì Border tạo khung cho vùng lựa chọn đấy. Border có thể có kích
thước từ 1 cho đến 64 pixel. Hãy xem ví dụ ở dưới khi một hình tròn được
đổi thành một vùng lựa chọn có đường biên là 10 Pixel
|

Vùng lựa chọn ban đầu |

Đổi thành vùng lựa chọn có đường biên là 10 Pixel. |
Bạn
sẽ rất ít khi dùng đến lệnh này, bởi vì khi bạn tô màu cho nó, bạn sẽ
thấy hình bị nhoè |
Khi
bạn muốn vùng lựa chọn được sắc nét bạn nên dùng lệnh Stroke. Nếu
bạn quay lại nhưng thao tác trước khi chúng ta dùng lệnh Border trong
History Palette, bạn có thể chọn Edit > Stroke.
Định
dạng chiều rộng và vị trí của Stroke, bạn sẽ có một đường viên sắc nét như
hình bên.
Lệnh Smooth làm mềm mại tất cả những điểm góc cạnh
trong vùng lựa chọn của bạn. Trong ví dụ dưới đây, hình thứ nhất là tôi vẽ
từ công cụ bằng tay với công cụ Lasso Tool đã được áp dụng chế độ Stroke.
Hình thứ hai cũng giống như hình một, nhưng dùng lệnh Smooth với bán kính
là 10. Với hình cuối cùng, tôi lại áp dụng lần nữa lệnh Smooth và vẫn với
bán kính bằng 10.
Bạn hãy tự thực hành đi. Hãy nhớ rằng bạn có thể Stroke một vùng lựa chọn
và di chuyển nó bằng cách nhấp vào trong nó và kéo.
Expand gia tăng độ rộng của vùng lựa chọn bằng một
giá trị pixel cụ thể, Contract làm giảm vùng lựa chọn với một giá trị cụ
thể.
|
ban đầu
 |
Expand 10 pixels
 |
Contract 10 pixels
 |
Lệnh Grow mở rộng vùng lựa chọn bao gồm những vùng
phụ cận mà có màu giông nhau tại vùng lựa chọn hiện tại. Lệnh Similar gia
tăng vùng lựa chọn bao gồm vùng không phụ cận mà có cùng tông màu. Trong
ví dụ ở dưới, đầu tiên tôi dùng Lasso Selection bên trong chiếc lá.

Sử dụng lệnh Grow, vùng lưa chọn mở rộng ra toàn bộ chiếc là như trong
hình.

Sử dụng Similar, vùng lựa chọn mở rộng cho đến khi
bao trùm cả hai lá.

Cách này tương tự với Contiguous option của Magic Wand tool. Grow tương
đương khi hộp kiểm Contiguous được đánh dấu, và Similar tương đương khi
Contiguous không được chọn
5. Transform Selection
Lệnh Transform Selection cho phép bạn có nhiều quyền kiểm soát với vùng
lựa chọn hơn.
Khi
bạn kích hoạt lệnh Transsform Selection, sẽ có một vùng bao quanh lấy vùng
lựa chọn như hình, hình này cũng giống như khi bạn dùng Crop Tool vậy. Bạn
cũng có thể kéo và dãn vùng lựa chọn đó nhờ vào các ô vuông nhở dọc hai
bên. Sau đây là những lệnh gõ tắt, bạn cũng nên vừa đọc vừa làm theo ví dụ,
vì diễn đạt bằng lời đã khó, chuyển ngôn còn khó hơn.
-
Giữ phím Ctlr và kéo ô vuông ở giữa các đường
biên cho phép bạn làm "lệch" hình.
-
Giữ phím Ctrl và kéo ở góc cho phép bạn chỉ làm
"méo" hình ở góc bị kéo
-
Giữ phím Alt và kéo ở góc sẽ định dạng kích cỡ
của hình vào trung tâm
-
Giữ phím Alt và kéo ở một cạnh sẽ thiết lập
Transform ở cả hai cạnh.
-
Phím Shift có thể kết hợp với các phím khác để
luôn được một đường thẳng.
-
Bạn có thể xoay vùng lựa chọn bằng cách di
chuyển con chuột ra ngoài vùng lựa chọn và con trỏ sẽ biến thành một mũi
tên cong, lúc đó bạn có thể xoay vùng lựa chọn.
-
Bạn có thể "lật" vùng lựa chọn bằng cách kéo
từ cạnh này qua cạnh kia.
-
Để thiết lập Transformation, nháy kép vào trong
vùng lựa chọn
-
Bỏ Transformation nhấn phím ESC
Bạn
có thể truy nhập thêm những lệnh Transformation băng cách nháy chuột phải
vào trong vùng lựa chọn sẽ có một menu hiện ra. Menu này cho phép bạn điền
giá trị số để định nghĩa vùng lựa chọn.
|
Chú ý Version 6.0 |
|
Ở PTS 6 bạn có thể điền giá trị số
trên thanh Option bar.
 |

Thực tập với lệnh Transformation bằng cách tạo ra
những hình tương tự như sau.
Practice transforming selections to make the
following shapes:





[Quay về đầu trang]
6. Quick Mask
Chúng ta tiếp tục bài học với Quick Mask Mode và Alpha
channels. Lý do để chúng ta học cùng một lúc hai lệnh trong một mục là vì
hai lệnh này rất giống nhau. Sau này khi bạn học đến Layer, những nguyên
lý sau có thể áp dụng để làm việc với Layer Mask và điều chỉnh Layer.
Thực chất lệnh Mask hoặc Alpha Channel là một cách trực quan hơn để thể
hiện vùng lựa chọn. Trong các bài trước chúng ta đã sử dụng lệnh Feather
trong vùng lựa chọn để tao ra hiệu ứng làm mờ đường viền. Bạn có thể thêm
giá trị số để kiểm soát, tuy nhiên bạn không thể nhìn thấy kết quả cho đến
khi bạn xoá layer background
Chúng ta hãy học lệnh Quick Mask bằng cách tạo hiệu ứng mờ đường biên
bằng một cách khác. Mở một file ảnh và tạo một vùng lựa chọn hình Elip.
Nút
Quick Mask được đặt ở trong hộp công cụ Tool Box. Lệnh gõ tắt cho nó là Q,
và nó có thể được dùng để tắt hoặc mở Quick Mask Mode.
Sau khi bạn đã tạo được hình Elip, nhấn phím Q để
chuyển sang Quick Mask Mode. Vùng không được lựa chọn sẽ là vùng nhìn thấy
được qua vùng màu đỏ.
Vùng
màu đỏ thể hiện "mask". Bây giờ chúng ta muốn tạo hiệu ứng làm
mờ đường
biên. Chọn Filter > Blur > Gaussian Blur. Bạn có thể phải nhấp và kéo
ở ô xem trước để thấy được đường biên của file ảnh. Tuy nhiên, ban có thể
đánh dấu vào hộp kiểm Preview để xem trước những thay đổi.
Bởi vì chúng ta kích hoạt lệnh Quick Mask trước khi
dùn lệnh Gaussian Blur, cho nên hiệu ứng chỉ áp dụng cho phần Mask
Bây giờ
bạn hãy kéo thanh trượt Radius lên trong khoảng từ 10-20 pixel và quan sát
Quick Mask
Chọn Ok để đóng hộp thoại Gaussian Blur lại.
Nhấn phím Q để thoát khỏi Quick Mask Mode.
Thiết lập vùng lựa chọn, và tô với màu trắng. (Fill
= Tô; bạn còn nhớ lệnh Fill không? nếu nền trước là màu trắng thì nhấn
Altl-Backspace-Del, còn nếu nền sau là trắng thì Ctrl-Backspace-Del)
Sau khi làm xong bạn có thể nghĩ sao phải rắc rối
thế, vì lệnh Feather cũng cho kết quả tương tự mà còn nhanh hơn nhiều.
Nhưng lệnh Quick Mask hữu dụng ở chỗ bạn có thể xem trước hiệu ứng Blur sẽ
tác động đến file ảnh như thế nào trước khi quyết định thiết lập.
Sau đây là một số tuỳ biến của lệnh Quick Mask
Nếu bạn nháy kép vào nút Quick Mask trong hộp Tool
Box bạn có thể thay đổi tuỳ biến của nó.
Nếu bạn muốn thay đổi màu của Mask bạn có thể thay
đổi nó ở đây. Nếu màu mặc định không thích hợp với file ảnh của bạn, ví dụ
như là trùng màu, bạn có thể nháy vào ô màu và đổi màu cho nó. Cuối cùng
bạn có thể điều chình Opacity của nó.
Một số mẹo nhỏ về Quick Mask
Quay lại file ảnh của bạn nếu Quick Mask vẫn còn hiển thị thì ở Layer
Palette thì chuyển nó sang chế độ Channels (nếu không hiển thị Quick Mask
bạn phải tạo ra một vùng Quick Mask như hướng dẫn ở trên).
Khi bạn ở chế độ Channels, do mặc định nó sẽ hiện
thị dưới dạng màu xám do 3 màu cơ bản là: đỏ, xanh lá cây và xanh.

Bạn sẽ thấy ở channel thứ 5 trong Channel Palette
có tên là Quick Mask. Quick Mask thực chất là một Alpha Channel tạm thời.
Alpha channel là một vùng lựa chọn đã được lưu lại. Bất cứ thay đổi nào
trong Quick Mask mode đều có thể được thể hiện trong Alpha Channel và
ngược lại. Một điều khác biệt duy nhất là Alpha Channel sẽ trở thành một
phần của file ảnh của bạn và Quick Mask sẽ bị mất ngay sau khi bạn thoát
khỏi Quick Mask mode và bỏ chọn.
Bất cứ sự thay đổi nào mà có thể áp dụng cho file
ảnh trắng đen đều có thể được áp dụng cho Quick Mask hoặc Alpha Channel.
Bạn có thể vẽ vào nó, áp dụng đường cong và những mức độ điều chỉnh, thậm
chí sử dụng những công cụ lựa chọn khác với Quick Mask Mode. Chúng ta đã
sử dụng một số lệnh Filter, và sau này bạn sẽ thấy có rất nhiều hiệu ứng
trong Filter có thể được sử dụng trong Quick Mask để tạo ra những hiệu ứng
hấp dẫn. Lệnh thiết lập Quick Mask là Ctrl-I
Bạn có thể nhận thấy rằng khi bạn bật chế độ Quick
Mask, nền trước và nền sau sẽ tự động chuyển thành màu mặc định là trắng
và đen (đừng lo! những màu mà bạn chọn trước đây vẫn còn đó khi bạn thoát
khỏi Quick Mask mode). Lý do của việc này là Mask thực tế là sự thể hiện
dưới dạng trắng đen của vùng lựa chọn. Khi bạn quan sát Quick Mask trong
Channel Palette, vùng màu đen thể hiện những gì mà nó hoàn toàn bị che phủ
và vùng màu trắng thể hiện chỗ đó không được che phủ (đây sẽ là vùng được
chọn khi bạn thoát khỏi Quick Mask). Dĩ nhiên bạn cũng có thể chọn từng
phần một và nó sẽ được thể hiện bởi một màu xám. Khi bạn vẽ trên chế độ
Mask, màu Đen sẽ xoá Mask và màu Trắng thì thêm vào Mask.
Không có gì bằng thực hành, cho nên ví dụ sau đây
sẽ thể hiện rõ hơn.
-
Mở một file ảnh
-
Nhấn phím Q để bật Quick Mask Mode, và sau đó
nhấn tổ hợp phím Alt-Backspace-Del để Fill với màu đen.
-
Vào Filter > Render > Clouds
-
Quan sát hình nhỏ trong Channel Palette và bạn
sẽ thấy nó được tô bởi một màu xám
-
Chọn con mắt nhỏ bên cạnh RGB channel ở trên
cùng của Palette và bạn sẽ thấy Quick Mask là màu xám. Chọn lại con mắt
để quay về chế độ ban đầu.
-
Thoát khỏi chế độ Quick mask. Vùng lựa chọn
Selection Marquee chỉ là một đường chấm chấm chẳng nói cho bạn biết điều
gì!
-
Nhấn tổ hợp phím Alt-Backspace-Del (hoặc
Ctrl-Backspace-Del, phụ thuộc vào nền trước và sau của bạn) để tô vùng
đó với màu trắng và file ảnh của bạn sẽ có một giao diện "um khói". Vùng
tối nhất chỉ cho bạn thấy những thay đổi lớn nhất và vùng sáng hơn là
thay đổi ít hơn.
Nếu bạn thích làm việc với Quick Mask bằng cách sử
dụng Selection Tool, bạn có thể Duplicate ở trong Select Menu bằng cách
chọn Quick Mask Mode và sử dụng những Filter và lệnh khác của PTS. Sau đây
là Quick Mask tương đương với một số tuỳ biến trong Select Menu.
-
Expand có thể được tạo bởi Filter > Other >
Minimum
-
Contrast được tạo bởi Filter > Other > Maximum
-
Feather được tạo bởi Filter > Blur > Gaussian
Blur (thử với Motion Blur hoặc Radial Blur để có những hiệu ứng khác
nhau)
-
Invert được tạo bởi Image > Adjust > Invert hoặc
Ctrl - I
-
Border (đường biên) được tạo bởi Filter > Sketch
> Photocopy. (Thử với thanh trượt)
-
Sau khi thiết lập Select > Border, bạn có thể
đổi sang Quick Mask và sử dụng Image > Adjust > Level để tạo đường biên
thật sắc nét. Bạn có thể dùng lệnh này để biến những đường biên bị
Feathered thành đường biên sắc nét.
-
Và dĩ nhiên bạn có thể tạo những vùng lựa chọn "tự
do" bằng cách sử dụng công cụ Painting trong Quick Mask Mode
|Quay
về đầu trang|
7. Alpha Channel và
Channel Palette.
Bất cứ lúc nào bạn muốn sử dụng lại một vùng lựa
chọn, bạn nên lưu nó lại ở Alpha Channel. Để làm điều này, bạn tạo một
vùng lựa chọn, chọn Select > Save Selection và một hộp thoại sẽ xuất hiện
Với chế độ mặc định vùng lựa chọn sẽ được lưu lại
với tài liệu hiện thời, nhưng bạn có thể kéo thanh cuộn để tạo một tài
liệu mới từ vùng lựa chọn. Trong hầu hết các trường hợp bạn sẽ lưu vùng
lựa chọn vào tài liệu hiẹn thời. Trong ô Name bạn có thể đặt tên cho vùng
lựa chọn để sau này khi bạn muốn Reload còn nhớ được "cái mặt" của nó
Bạn cũng có thể thêm, bớt hoặc giao nhau với vùng
lựa chọn với một Alpha Channel được mở từ trước. Hoặc bạn cũng có thể tạo
một channel mới.
Một file ảnh có thể có tối đa là 24 channels, bao
gồm tất cả các kênh màu. Những kênh Alpha này được lưu lại khi bạn lưu
hoặc đóng hoặc mở file ảnh, nhưng chỉ khi file ảnh được save dưới định
dạng mà nó hỗ trợ. Những định dạng này bao gồm những định dạng của PTS như
PSD, PDF, PICT, TIFF và RAW.
Vùng lựa chọn được lưu lại xuất hiện ở Channel
Palette. Để load vùng lưu lại này bạn vào Select > Load Selection. Nếu tài
liệu của bạn bao gồm hơn một Alpha Channels bạn phải chọn file mà bạn muốn
từ menu thả xuống. Bạn có thể thiết lập vùng lưạ chọn khi bạn Load nó. Nếu
bạn đã có một vùng lựa chọn bạn có thể dùng tuỳ biến Operation để thêm,
bớt hoặc giao nhau.
Bạn cũng có thể làm việc với vùng lựa chọn được lưu
lại thông qua Channel Palette. Bạn hãy lưu lại một số vùng lựa chọn để bạn
có thể theo dõi khi chúng ta bàn về Channel Palette. Để xem channel trong
chế độ hiển thị trắng đen, nháy vào "channel" trên Channel Palette. Để xem
vùng lựa chọn xuyên qua một file ảnh đang được thể hiện, nháy vào con mắt
bên cạnh RGB và con mắt bên cạnh hình nhỏ của channel mà bạn muốn nhìn
qua.
Khi
một channel được chọn trong Channel Palette, bất cứ những thao tác nào của
bạn sẽ chỉ được thể hiện ở Channel, tương tự như khi bạn trong Quick Mask
mode. Nháy đúp vào Channel để mở tuỳ biến của nó và nó cho phép bạn đặt
lại tên một channel. Ở bên phía ngoài cùng bên phải của hình nhỏ, bạn sẽ
thấy lệnh gõ tắt để chọn một channel cụ thể. Bạn nên nhớ lệnh gõ tắt
Ctrl-~ để chọn RGB.
Bạn cũng
sẽ thây một dãy nút ở dưới cùng của Channel Palette. Những nút này cho
phép bạn load một channel như là vùng lựa chọn, lưu một vùng lựa chọn như
là một channel, tạo một channel trống, và xoá chaannel. Nếu bạn muốn hộp
thoại xuất hiện để bạn đặt tên cho vùng lựa chọn khi bạn sử dụng chế độ
nút để lưu vùng lựa chọn, giữ phím Alt khi bạn muốn nháy vào nút. Để tạo
ra một Alpha channel mới dựa trên một channel đã có, kéo bất cứ channel
nào vào nút "create new channel". Một nhân bản của channel đó sẽ xuất hiện
mà bạn có thể sửa chữa. Giữ phím Alt để mở hộp thoại. Để xoa một channel,
kéo và thả nó vào nút có biểu tượng thùng rác.
[Quay
về đầu trang]
8.
Thực hành với Quick Mask và Alpha Channel
Sau đây là một vài bài thực hành để
giúp bạn hiểu rõ thêm về Quick Mask mode và Alpha Channels.
Bài 1: Rounded
Rectangle - Hình vuông được làm tròn các góc
-
Mở một file mới 100x200 Pixel
-
Tạo một vùng lựa chọn bằng công cụ Rectangular
Selection
-
Bật Quick Mask mode (Q)
-
Filter > Blur Gaussian Blur
-
10 pixel radius
-
Image > Adjust > Levels
-
Kéo thanh trượt trắng và đen về phía giữa như
hình

Roài!
một vùng lựa chọn được làm tròn góc

Bài 2: Tạo một hình mờ dần

-
Mở một file ảnh
-
Bật chế độ Quick Mask Mode
-
Chọn Linear Gradient tool
-
Thiết lập Gradient option là Foreground to
Background
-
Nhấp và kéo để tô vùng Mask với Gradient (giữ
phím Shift)
-
Thoát khỏi Quick Mask Mode. (Chú ý Marquee
Selection sẽ xuất hiện bởi vì nếu file hình được chọn một nửa. Điều này
là do Marquee chỉ xuất hiện khi có hơn 50% pixel được chọn).
-
Nhấn phím D để định dạng lại màu mặc định
-
Nhấn tổ hợp phím Ctrl-Spacebar-Del hoặc
Backspace.
Bài 3: Kết hợp giữa Selection tool và Quick Mask
để lựa chọn nhanh hơn.


-
Lựu lại hình bông hoa vào máy
hình này.
-
Sử dụng Magic Wand với Tolerance khoảng 100 và
nháy chuột vào vùng cách hoa màu vàng.
-
Hầu hết phần cánh hoa sẽ được lựa chọn. Nếu bạn
thích có thể chọn Select > Similar để chọn thêm phần cánh hoa.
-
Bật Quick Mask mode
-
Tạo vùng lựa chọn ở phần nhuỵ hoa sau đó loại bỏ
Mask bằng cách tô cho nó màu trắng. Backspace hoặc Ctrl-Spacebar-Del
-
Thoát khỏi Quick Mask Mode
-
Ctrl-Shift-I
-
Tô tiếp với màu trắng.
Bài 4: Tạo
đường viền

-
Mở một file ảnh.
-
Tạo vùng lựa chọn Rectangular nhỏ hơn toàn bộ
ảnh một chút kể từ đường biên.
-
Bật Quick Mask Mode
-
Filter > Brush Strocke > Spatter
-
Điều chỉnh cửa sổ xem trước để bạn nhìn thấy
đường biên của Mask và điều chỉnh thanh trượt đến khi bạn thấy hài lòng
với hiệu ứng. Tôi dùng Radius là 20 và Smoothness là 4.
-
Ctrl-I (đảo nghịch Quick Mask)
-
Thoát khỏi Quick Mask
-
Tô với màu trắng
Hãy thử tương tự với những hiệu ứng sau đây.
-
Filter > Distort > Ripple
-
Filter > Distort > Glass
-
Filter > Distort > Ocean Ripple
-
Filter > Artistic > Underpainting
-
Filter > Blur > Gaussian Blur (10-20 pixels)
followed by Filter > Pixelate > Color Halftone
-
Filter > Blur > Gaussian Blur (10-20 pixels)
followed by Filter > Pixelate > Crystallize
-
Filter > Blur > Gaussian Blur (10-20 pixels)
followed by Filter > Pixelate > Crystallize
-
Filter > Blur > Gaussian Blur (10-20 pixels)
followed by Filter > Pixelate > Mosaic (10)
-
Filter > Sketch > Torn Edges
-
Filter > Sketch > Water Paper
-
Filter > Stylize > Diffuse (apply multiple
times)
-
Filter > Blur > Gaussian Blur (10-20 pixels)
followed by Image > Adjust > Poserize (5-10)
© Bá tước Monte Cristo -
www.vietphotoshop.com